cuộc nội chiến dưới thời Ðông Hán:
Cuối đời Ðông Hán, nhân khi chính quyền trung ương auy yếu, trật tự xã hội hỗn loạn, các quan lại châu quận và các nhà hào phú ở địa phương đã phát triển lực lượng vũ trangcủa mình trở thành những tập đoàn quân phiệt chiếm cứ các nơi trong nước.
Ở triều đình, sau khi đàn áp được phong trào khăn vàng, cuộc đấu tranh giữa các thế lực chính trị khác nhau vẫn tiếp diễn. Năm 189, Hán linh đế chết. Kẻ nắm quyền binh là đại tướng quân Hà Tiến (anh của Hà hoàng hậu ) ngầm liên kết với các tướng quân phiệt Viên Thiệu, Ðổng Trác để tiêu diệt bọn quan hoạn, nhưng việc chưa thành thì bị bọn quan hoạn giết chết. Với binh lực trong tay, Viên Thiệu giết hơn hai ngàn quan hoạn, nhưng ngay sau đó đổng Trác kéo quân vào kinh đô nắ lấy mọi quyền hành trong triều đình. Năm 192, Ðổng Trác bị một viên tướng của mình là Lữ Bố giết. Từ đó, cuộc nội chiến giữa các thế lực quân phiệt càng lan rộng và quyết liệt, còn vua đông Hán và hiến đế (năm 190 - 220 ) thì hết bị tập đoàn quân phiệt này đến tập đoàn quân phiệt khác thao túng. Năm 196, Tào Tháo, một kẻ rất tích cực trong việc đánh Ðổng Trác và nhanh chóng phát triển lực lượng của mình nhờ thu nạp được 30 vạn quân Khăn vàng đã khống chế được chính quyền Ðông Hán.
Năm 200, Tào Tháo đánh thắng Viên Thiệu ở trận Quan Ðộ rồi thu tóm cả miền Bắc Trung Quốc. Lúc bấy giờ, ở miền Nam có hai lực lượng đáng chú ý là Tôn Quyền và Lưu Bị. Năm 208, Tào Tháo đưa 30 vạn quân xuống giao chiến với 5 vạn quân của Tôn Quyền và Lưu Bị ở trận Xích Bích nhưng thất bại nặng nề.
Sau trận đánh nổi tiếng này, Lưu Bị tiến về phía Tây, tạo thành ba thế lực đối địch nhau : Tào Tháo ở phía bắc, Tôn Quyền ở Ðông nam, Lưu Bị ở Tây nam.
2. sự thành lập và diệt vong của ba nước Ngụy, Thục, Ngô :
Năm 220, Tào Tháo chết, con là Tào Phi bắt Hán đế phải nhường ngôi cho mình, nhà Ðông hán diệt vong. Tào Phi lên làm vua, đóng đô ở Lạc dương, đặt là Ngụy.
Năm 221, Lưu Bị cũng xưng làm hoàng đế, đóng đô ở Thành đô, lấy quốc hiệu là Hán, lịch sử thường gọi là Thục.
Năm, 222, Tôn Quyền xưng vương (đến năm 229 cũng xưng đế ), đóng đô ở Kiến Nghiệp (Nam Kinh sau này ), đật tên nước là Ngô.
Thế là, bắt đầu từ năm 220, lịch sử Trung Quốc chính thức bước vào thời kìTam Quốc
Trong ba nước này, Ngụy là nước mạnh nhất, do đó tuy giữa thục và ngô, trước đây từng xãy ra chiến tranh, nên vì quyền lợi sống còn nên hai bên phải thân thiẹn với nhau để chống lại Ngụy. Sau mấy chục năm giằng co với nhau, đến năm 263, Thục bị Ngụy tiêu diệt. Năm 265, ở miền bắc, triều Tấn thay triều Ngụy. Ngay sau đó, Tấn lấy đất Thục làm căn cứ quân sự để đóng chiến thuyền, huấn luyện thủy quân, chuẩn bị đánh Ngô. Năm 280, Ngô bị Tấn tiêu diệt. Trung Quốc lại được thống nhất. __________________
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngụy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngụy. Hiển thị tất cả bài đăng
THỜI KÌ TAM QUỐC : NGỤY, THỤC, NGÔ ( 220 - 280 )
Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009 vào lúc 18:44 Nhãn: { ngô, Ngụy, thời kì tam quốc, thục } {0 nhận xét}
Thời Xuân Thu
vào lúc 18:33 Nhãn: { Ngụy, Sở, Tần, Tề, Triệu } {0 nhận xét}
(770 - 475 trước Công nguyên)
Năm 770 trước Cn, CHu Bình Vương chuyển về phía Đông bỏ lại kinh đô Lạc Ấp cho ba nước Hàn, Triệu, Nguỵ tranh giành quyền lực gây tổn hại về người và của, sử gọi là Xuân ThuSau khi CHu Bình Vương dời đô về phía Đông, nhà CHu đã rơi vào đường suy nhược, yếu kém đến không thể tự tồn tại được. Còn các nước chư hầu do trong chiến tranh chiếm đoạt lẫn nhau nên sinh ra mối quan hệ kiêm tính.
Đến thời Xuân Thu, dần dần các nước lớn có thế lực buộc các nước khác phải hàng phục quy thuận, nên hình thành một số nước lớn.
Lúc bấy giờ, các nước ở Sơn Đông phải quy hàng nước Tề, vùng Tây Bắc nổi lên nước Tần, vung Hoa Bắc, Sơn Tây có nước Tấn, vùng Giang Hán Hoài có nước Sở.
Hồi đầu triều Chu, toàn Trung Quốc có 1800 nước, đến thời Xuân Thu chỉ còn hơn 100 nước, nhưng chỉ có những nước lớn là, Tần, Tấn, Sở, Lỗ, Tề, Vệ, Yên, Tào, Tống, Trần,Sái,Trịnh, Ngô, Việt, tất cả 14 nước. Trong đó các nước lớn tranh giành bá quyền, lúc đầu hơn 10 nước, sau còn 5 nước ( Ngũ Bá) là Tấn, Tần, Tề, Sở, Yên.
Thời Chiến Quốc( thế kỷ V - cuối thế kỷ III tr.CN) tiếp theo thời Xuân Thu, là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã ở nhiều nơi trên đất Trung Quốc, đồng thời hình thành nên chế độ phong kiến. Bước sang thời Chiến Quốc, còn lại bảy nước lớn ( Thất hùng) là Tần, Hàn, Triệu, Nguỵ, Sở, Yên, Tề và một số nước nhỏ. Những cuộc chiến tranh thôn tính vẫn tiếp diễn giữa bảy nước với nhau.
Trong xã hội lúc bấy giờ, do biến động về kinh tế, nói chung, những người sản xuất nhỏ có người trở thành kẻ sĩ. Đương thời, vua các nước như Tề Uy Vương, Nguỵ Huệ Vương, Yên Chiêu Vương có một thời đã làm kẻ sĩ, được mọi người nuôi dưỡng, còn những người nuôi kẻ sĩ được các nước gọi là "Quân", có:
Mạnh Thường Quân nước Tề
Tín Lăng Quân nước Nguỵ
Bình Nguyên Quân nước Triệu
Xuân Thân Quân nước Sở
Có những lúc, đã nuôi đến trong nhà hơn 3000 kẻ sĩ.
Kẻ sĩ là tiền thân của bọn quan liêu sau này, nhưng đối với chính trị đương thời vẫn có tác dụng nhất định.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)