HẠ VŨ

Hạ Vũ (chữ Hán: 禹; 2205 TCN2198 TCN[1]) là vị vua đầu tiên của nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đầu tiên xác lập chế độ cha truyền con nối. Tên khi sinh của ông là Tỉ Văn Mệnh (chữ Hán: 姒文命), thường được gọi là Đại Vũ (大禹)

Trị thuỷ

Theo truyền thuyết, vua Vũ là vị vua đầu tiên của nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc, được coi là người sáng lập ra triều đại này. Ông được nhớ tới nhiều nhất với tư cách là người đã có công phát triển kỹ thuật trị thủy chinh phục các sông ngòi Trung Quốc.

Cha Vũ là Cổn (鯀) được vua Nghiêu (堯) sai đi trị thủy nhưng không thành công nên bị người kế tục vua Nghiêu là Thuấn (舜) xử tử. Tiếp tục công việc của cha, Vũ đã đào chín sông mới, khai thông 9 tuyến đường núi lớn, bỏ ra mười ba năm và khoảng 20.000 nhân công để hoàn thành nhiệm vụ.

Vũ cũng là người nổi tiếng về tính kiên trì và kiên quyết. Ông được kính trọng như một vị vua hoàn hảo. Các câu chuyện về công việc trị thủy của ông cho rằng trong thời gian làm việc, ông đã ba lần qua nhà mà không vào; có nghĩa là ông coi vấn đề trị thuỷ quan trọng hơn việc gia đình rất nhiều.

Vua Thuấn rất ấn tượng trước những nỗ lực của Vũ và đã đưa ông lên ngôi chứ không phải con trai mình là Thương Quân.

Trong Sử Trung Quốc (1997), Nguyễn Hiến Lê có viết:

"Thời đó đâu có đủ dân, đủ khí cụ làm công việc vĩ đại như vậy, bất quá Vũ chỉ "sửa sang ngòi lạch" như Khổng Tử nói trong bài VIII - 21 (Luận ngữ) để bớt ứng thuỷ thôi. Nhưng Khổng Tử cũng khen Vũ lắm, bảo không chê Vũ vào đâu được vì Vũ sống đạm bạc mà cúng tế quỷ thần thì trọng hậu (ta nên hiểu là đời sống chất phác, và rất tin quỷ thần)".

[sửa] Truyền ngôi

Theo Sử ký, từ thời Thuấn và Hạ Vũ, chế độ cống thuế đã hoàn bị[2]. Cuối đời, vua Vũ đi săn bắn và hội họp chư hầu ở Giang Nam và qua đời tại đó. Ông được chôn cất ở nơi này. Theo giải thích của Sử ký, Cối (hay Hội) và là việc hội họp chư hầu và khảo sát thành tích, vì vậy nơi ông mất và xây mộ được gọi là Cối Kê (hay Hội Kê)[3].

Lăng mộ được xây dựng ở Cối Kê để tưởng nhớ ông. Một số hoàng đế sau này đã đi tới đó thực hiện các nghi lễ tưởng niệm ông, đặc biệt có cả Tần Thuỷ Hoàng. Lăng Đại Vũ (大禹陵), cũng đã được xây dựng trên di tích nơi các buổi lễ đó được thực hiện.

Trước thời vua Vũ, ngôi vua được kế tiếp cho người nào được cộng đồng coi là có đạo đức cao nhất, chứ không phải là truyền cho con. Ban đầu, Hạ Vũ đã chọn người hiền tài là Cao Dao thay mình, nhưng Cao Dao mất sớm nên ông chọn con Cao Dao là Ích.

Theo chính sử, con trai vua Vũ, Khải (啟), đã chứng minh được khả năng của mình, được nhiều người ủng hộ hơn Ích và trở thành người thừa kế ngôi báu của cha, đánh dấu sự khởi đầu của một triều đại mới là nhà Hạ (夏), triều đại đầu tiên của phong kiến Trung Quốc. Nó đã trở thành một hình mẫu cai trị dựa trên thừa kế ở Trung Quốc[4].

Đi thăm lăng mộ bí ẩn của Chu Nguyên Chương

Lăng mộ các đời vua nhà Minh (“Thập Tam Lăng”) đều tập trung ở Bắc Kinh. Riêng người sáng lập ra triều đại này là Chu Nguyên Chương lại được mai táng tại Nam Kinh. Cho tới nay lăng này vẫn chưa được khai quật và còn chứa nhiều bí ẩn. Nhưng từ ngày 19/2/2009 vừa rồi, cùng với một bảo tàng mới được khai trương, khách tham quan đã có dịp “khám phá” lăng này, tất nhiên chỉ qua những hình ảnh được phục dựng dựa theo kết quả nghiên cứu những năm gần đây.

Vua Chu Nguyên Chương
(tranh cổ).
Chu Nguyên Chương (1328 - 1398), tức Minh Thái Tổ, sinh ra tại một gia đình nông dân nghèo, là người lãnh đạo những cuộc khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, lập ra triều đại nhà Minh (1368 - 1644), đặt đô ở Nam Kinh. Nhưng khi lên ngôi, vị vua hà khắc này đã mở ra một triều đại phong kiến tập quyền chuyên chế, khiến cho sự phát triển của Trung Quốc bị kìm hãm suốt nhiều thế kỷ. Các nhà sử học về sau cho rằng, Trung Quốc bắt đầu trở nên lạc hậu so với phương Tây là từ đời Minh.

Khi còn tại vị, Chu Nguyên Chương đã bắt đầu xây dựng lăng mộ cho mình. Sau 25 năm đến đời con trai ông lên ngôi mới hoàn tất, khu lăng mộ này, còn gọi là Minh Hiếu Lăng, tọa lạc trên núi Cẩm Khê gần Nam Kinh. Đây là một trong những khu lăng lớn nhất Trung Quốc, có chu vi tường thành dài 22,5 km (gần bằng 2/3 chiều dài của tường thành Bắc Kinh thời đó). Khu lăng này cùng với các lăng mộ khác của đời nhà Minh và nhà Thanh đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 2003.

Theo giáo sư sử học Hạ Vân Cao, thuộc Đại học Nam Kinh và là một chuyên gia nghiên cứu Minh Hiếu Lăng, tương truyền khi làm lễ mai táng Chu Nguyên Chương, cùng lúc người ta đưa đám từ 13 thành môn với những nghi lễ giống hệt nhau để hậu thế không biết đâu là giả, đâu là thật. Thậm chí trong nhiều thế kỷ còn lưu truyền vua Chu Nguyên Chương không phải được an táng tại Nam Kinh, mà là ở Bắc Kinh (nơi các con cháu của ông định đô). Mãi đến năm 1997 các nhà khảo cổ dùng những kỹ thuật tiên tiến mới xác định được vị trí chính xác của nơi chôn vua Chu Nguyên Chương trong Minh Hiếu Lăng.
Một gian của Bảo tàng Chu Nguyên Chương

Cho đến nay lăng này vẫn chưa được khai quật chủ yếu vì người ta lo ngại sau khi được đào lên, các văn vật ở dưới mộ có thể nhanh chóng bị hư hại nếu không có biện pháp bảo quản tốt. Vì thế các nhà khảo cổ chỉ có thể sử dụng các biện pháp thăm dò tiên tiến (đo trắc bằng từ, kỹ thuật định vệ tinh…) để “nhìn xuyên qua lòng đất” nhằm có những hình ảnh chân thực về lăng mộ và quần thể kiến trúc cung điện nằm sâu trong lòng đất cũng như các đồ vật chôn theo.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, mộ Chu Nguyên Chương được an táng tại Cung Bảo Đỉnh trong Minh Hiếu Lăng. Đó là một cung điện ngầm dưới đất tương đương với tòa nhà ba tầng. Các cửa ra vào cung điện này là những tấm đá rất lớn. Trong cung điện có đặt một ngai vàng biểu hiện cho uy quyền của nhà vua. Xung quanh đó có nhiều phòng và các hành lang dài nối điện chính tới các điện nhỏ. Khi Chu Nguyên Chương qua đời, tục lệ chôn sống hoàng hậu, thứ phi và một số quan quân cận vệ theo nhà vua - đã được bãi bỏ từ đời nhà Tần (255-207 trước CN) - lại được khôi phục: Có 38 người bị chôn sống để xuống mộ cùng với ông. Vì thế trong cung điện có khá nhiều xương người. Trong đó có thể còn có cả xương của những kẻ đào mộ lọt được vào trong cung, nhưng buộc phải chết trong đó do tấm cửa đá lớn tự động sập xuống không cho chúng thoát ra ngoài. Khu cung điện này nằm sâu dưới lòng đất mấy chục mét và sau hơn 6 thế kỷ vẫn được bảo tồn tương đối hoàn hảo.
Ngai vàng trong cung điện ngầm được phục dựng
Cung điện chia làm ba khu lớn là tiền sảnh, trung điện và hậu cung chạy theo chiều đông-tây với nhiều phòng nhỏ là nơi ở của quần thần, quân cấm vệ và cung nữ hầu hạ. Tại hậu cung có đặt hai quan tài, gồm một quan tài lớn có ba lớp đặt thi hài của Chu Nguyên Chương, trong đó có rất nhiều ngọc ngà châu báu; quan tài nhỏ đặt thi hài được cho là của Hoàng hậu họ Mã. Trên tường và trên trần các cung điện đều có các bức bích họa và các điêu khắc gồm tứ linh (long, ly, quy, phượng), tiên nữ, tiên ông, các dã thú. Đặc biệt là trong mộ có những mảnh pha lê màu vàng, màu xanh dùng làm móng vuốt và vảy rồng…

Từ những kết quả nghiên cứu thu được trong hơn 10 năm qua nêu trên, các nhà khoa học từng bước “phục dựng” lại lăng mộ của Chu Nguyên Chương bằng hình ảnh 3D cũng như tái tạo lại một số đồ vật để tạo ra hiện vật cho Bảo tàng Chu Nguyên Chương mới được thành lập.

Giám đốc Bảo tàng Chu Ngọc Văn cho biết: Đến bảo tàng này, công chúng có dịp “đi thăm” Lăng mộ Chu Nguyên Chương qua những bộ phim 3D được chiếu trong một khu chiếu phim hình tròn với 9 máy chiếu, mô tả tỉ mỉ những chi tiết trong cung điện ngầm dưới đất. Bảo tàng vừa được mở cửa ngày 19/2, trong đó Phòng trưng bày hiện vật mở miễn phí, còn Phòng chiếu phim thu vé 30 NDT đối với người lớn, 15 NDT đối với trẻ em 15 NDT và hạn chế mỗi ngày chỉ đón 3.000 khách tới thăm quan.

ĐẾ THUẤN

Đế Thuấn (舜) là một vị vua huyền thoại thời Trung Quốc cổ đại, nằm trong Ngũ Đế. Tên khi sinh của ông Diêu Trọng Hoá (姚重華). Ông cũng được gọi là Hữu Ngu Thị (有虞氏).

Vua Thuấn, cùng với các vua Nghiêu, được Khổng giáo coi là những vị vua kiểu mẫu, và là những tấm gương đạo đức

Thân thế

Thuấn nổi tiếng là người hiền đức trong thiên hạ. Theo truyền thuyết, mẹ ông, Ốc Đăng là người rất hiền đức mất sớm, cha là Cổ Tẩu lấy vợ khác và sinh ra Tượng. Dù bị mẹ con Tượng và cả Cổ Tẩu đối xử không tốt, Thuấn vẫn một mực hiếu thuận, giữ đúng đạo làm con.

[sửa] Cai trị

[sửa] Được Nghiêu truyền ngôi

Danh tiếng của Thuấn đồn xa. Ông được vua Nghiêu mời giúp cai quản việc nước và gả cho hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh. Sau một thời gian, Nghiêu già yếu, Thuấn được Nghiêu nhường ngôi khi 53 tuổi và chết khi 100 tuổi. Ông đặt thủ đô của vương quốc tại Bồ Phản (蒲阪), Sơn Tây hiện nay). Ông cũng được gọi là Đại Thuấn (大舜) hay Ngu Thuấn (虞舜).

Việc Nghiêu chọn Thuấn nhường ngôi chứ không nhường ngôi cho con mình là Đan Chu thường được sử sách đời sau coi là tấm gương mẫu mực của việc chọn người tài đức chứ không vì lợi ích riêng tư của dòng họ.

[sửa] Theo Trúc thư kỉ niên

Tuy nhiên có ý kiến căn cứ vào Trúc thư kỉ niên, cuốn biên niên sử nước Ngụy thời Chiến Quốc cho rằng:

Thuấn giam Nghiêu ở Bình Dương rồi cướp lấy ngôi vua.
Thuấn giam Nghiêu và không cho Đan Chu gặp cha.[1].

[sửa] Truyền ngôi cho Vũ

Thời cổ đại, trị thuỷ để ổn định cuộc sống, phát triển việc cày cấy là việc cấp bách hàng đầu. Theo sử sách, Thuấn sai Cổn làm việc trị thuỷ. Cổn trị thuỷ không thành công nên bị Thuấn xử tội chết.

Thuấn lại dùng con Cổn là Hạ Vũ trị thuỷ. Sau nhiều năm, Hạ Vũ trị thuỷ thành công, vì thế được Thuấn chọn làm người kế vị. Thuấn không truyền ngôi cho con mình là Thương Quân mà trao ngôi báu cho Hạ Vũ.

[sửa] Trong văn học Việt Nam

Tượng vua Thuấn minh họa hiếu cảm động trời của ông trong Nhị thập tứ hiếu

Trong văn học Việt Nam, thời Nghiêu, Thuấn được dùng làm điển cố miêu tả thời thái bình, (ngoài) đường không lượm của rơi, (trong) nhà khỏi lo đóng cửa.

Trong vở kịch thơ “Kiều Loan”, Hoàng Cầm dùng hai chữ “Nghiêu Thuấn” để chỉ cách cai trị nhân từ và công bằng. Khi quan Thị lang muốn trừng trị một người dân vì có nói lời chỉ trích triều đình vua Gia Long, viên quan Tham tri can:

Xin đại nhân chớ vội vàng lên án
Cửa miệng dân gian không thiếu những điều
Ca tụng Tây Sơn, oán trách đương triều
Dân oán hận phải tìm ra gốc ngọn
Đây là Kiệt Trụ hay đây là Nghiêu Thuấn?
Chúa thượng nhân từ sao oán hận không nguôi?

Điển cố này cũng ảnh hưởng khía cạnh khác của đời sống người Việt Nam, kể cả tôn giáo. Bài Kệ U Minh Chung của đạo Cao Đài có câu:

Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt.

Dịch nghĩa: Đất đai trong nước đều thấm nhuần thời thái bình an lạc.

Một điển cố khác liên quan đến vua Thuấn là sông Tương.

Theo truyền thuyết, vua Thuấn đi tuần thú đất Thương Ngô ở miền sông Tương không may bị bệnh chết. Hai người vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh (con vua Nghiêu) đi tìm vua đến bên sông Tương, ngồi bên bờ sông khóc lóc thảm thiết rồi trầm mình tự tử. Do đó, giọt Tương hay mạch Tương thành điển cố chỉ giọt nước mắt, nhất là nếu khóc vì tình.

Trong truyện Kiều có câu:

Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương

(Kiều khóc)

Điển cố này cũng dùng cho phái nam, như trong câu sau, cũng trích truyện Kiều:

Giọt châu lã chã khôn cầm
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương!

(Thúc Sinh khóc)

Từ biểu tượng “khóc vì tình”, điển này có khi nới rộng ra để nói về việc buồn (dù có thể không khóc) vì tình, như câu sau trong Bích câu kỳ ngộ:

Ỏi tai những tiếng đoạn trường
Lửa tình dễ nguội sóng Tương khôn hàn

ĐẾ NGHIÊU

Đế Nghiêu (tiếng Trung Quốc: 堯, giản thể: 尧) (2337 TCN – 2258 TCN) là một vị vua huyền thoại của Trung Quốc cổ đại, một trong Ngũ Đế. Ông, cùng với các vua Thuấn sau này, được Khổng giáo xem là các vị vua kiểu mẫu và các tấm gương đạo đức.

Thân thế

Nghiêu, cũng được gọi là Giao Đường Thị (陶唐氏). Theo Sử ký - Ngũ đế kỷ, ông có tên là Phóng Huân (放勳), là con trai thứ hai của Đế Khốc, mẹ họ Trần Phong. Ông có người em khác mẹ của Đế Chí.

Vì Nghiêu thuộc bộ tộc Đào Đường nên ông cũng được gọi là Đường Nghiêu (唐堯).

[sửa] Theo thư tịch cổ

Trong thư tịch cổ, Nghiêu thường được ca tụng là một vị vua tài giỏi và đạo đức, lòng nhân từ và sự cần cù của ông được coi là kiểu mẫu cho mọi vị vua và hoàng đế Trung Hoa khác. Buổi ban đầu lịch sử Trung Hoa, ba gương mặt, Nghiêu, Thuấn rất thường được đề cập tới, và những nhà sử học thời sau tin rằng có thể họ đại diện cho những lãnh tụ của các bộ tộc liên minh đã thành lập nên một hệ thống trật tự chính phủ thống nhất trong một giai đoạn chuyển tiếp sang một xã hội phong kiến gia trưởng.

Theo truyền thuyết, Nghiêu lên ngôi khi 20 tuổi, qua đời ở tuổi 119 và ông truyền ngôi cho vua Thuấn, người được ông gả cho hai cô con gái từ trước. Trong nhiều cống hiến của mình, vua Nghiêu được cho là đã phát minh ra cờ vây.

Truyền thuyết “Sào Phủ Hứa Do” là một chuyện đời vua Nghiêu. Nhân vật Bành Tổ cũng được cho là một nhân vật của thời vua Nghiêu.

[sửa] Theo Trúc thư kỉ niên

Việc Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn chứ không truyền ngôi cho con là Đan Chu thường được sử sách đời sau xem là tấm gương mẫu mực của việc chọn người tài đức chứ không vì lợi ích riêng tư của dòng họ. Tuy nhiên, có ý kiến căn cứ vào Trúc thư kỉ niên, cuốn biên niên sử của nước Ngụy thời Chiến Quốc cho rằng:

Thuấn giam Nghiêu ở Bình Dương rồi cướp lấy ngôi vua.
Thuấn giam Nghiêu và không cho Đan Chu gặp cha.[1]

[sửa] Trong văn học Việt Nam

Trong văn học Việt Nam, thời Nghiêu, Thuấn được dùng làm điển cố miêu tả thời thái bình, (ngoài) đường không lượm của rơi, (trong) nhà khỏi lo đóng cửa.

Điển cố này ảnh hưởng trong văn học cũng như các khía cạnh khác của đời sống người Việt Nam, kể cả tôn giáo. Bài “Cư Trần Lạc Đạo Phú” của vua Trần Nhân Tông (sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật giáo) có câu:

Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha.

Các vua Việt Nam cũng dùng Nghiêu Thuấn là mẫu mực cho việc cai trị. Bên trong điện Thái Hòa (thành nội Huế), ngay trên ngai vua có bài thơ:

Văn hiến ngàn năm dựng
Núi sông vạn dặm xa
Hồng Bàng thưở lập quốc
Nghiêu Thuấn vững sơn hà.

ĐƯỜNG THÁI TÔNG

Thời thịnh trị của niên đại Trinh Quán

(LÝ THẾ DÂN 236-249)


Vua họ Lý tên Thế Dân, con thứ của Đường Cao Tổ, là người thông minh tuấn tú, văn võ kiêm thông. Sau khi lên ngôi, Đường Thái Tông đã thành công trong cả hai lĩnh lực giáo dục và quân sự, biết chọn người hiền và dùng người có tài năng, giỏi dụng binh.Về phía Quan văn thì có: Phòng Huyền Linh, Ngụy Trưng v.v…; phía quan võ thì có, Lý Tịnh, Lý Tịch v.v…Nhân tài quy tụ, khiến cho niên đại Trinh Quán cực thịnh một thời, đất nước được thống nhất, muôn dân đồng lòng tôn phò một vua. Khi Ngụy Trưng qua đời, Thái Tông đau lòng than rằng: “Như dùng đồng làm gương, để chỉnh sửa áo mão; lấy việc xưa làm gương, để thấy được sự thịnh suy của cuộc đời; nhìn người làm gương để biết cái đúng cái sai của chính mình. Nay Ngụy Trưng mất đi, trẫm như mất một tấm gương vậy”.

Khi Đại Sư Huyền Trang thỉnh kinh trở về, vua ban chiếu thỉnh ngài dịch Đạo Đức Kinh của Lão Tử sang tiếng Phạn, mở đầu cho việc truyền bá văn hoá Trung Hoa ra nước ngoài. Đại sư còn vâng chỉ dịch bộ kinh Đại Bát Nhã gồm sáu trăm quyển (từ tiếng Phạn ra tiếng Trung Hoa). Lúc nhà Đường hưng thịnh, Nhật Bản có phái các vị tăng như ngài Không Hải v.v... đến Trung Hoa lưu học, còn phái sứ giả mang lễ vật cống tặng, tất cả có đến mười tám lần.

Khen rằng:

Đường đại thánh quân

Trinh Quán chi thời

Thiên hạ quy tâm

Tứ hải cống chí

Văn lược võ công

Tướng tướng hiền sĩ

Thiện ư dụng nhơn

Quốc gia đại trị.

Lại nói kệ rằng:

Uy chấn trung ngoại phục tứ di.

Đức bị hà nhĩ vọng lai lai tề

Ngụy Trưng trung liệt tá đế tòa.

Tần Quỳnh anh dũng bảo sơn hà

Huyền Linh văn công an xã tắc

Nhân Quý võ huận hoá can qua

Đại Đường thạnh thế lưu phương viễn

Truyền biến Nam Bắc dữ Đông Tây.

Giảng giải bằng văn Bạch Thoại :

Đường Thái Tông là một vị hoàng đế anh minh nhất kể từ sau Triều Đại nhà Chu . Thái Tông có những đặc biệt gì để gọi là vua anh minh? Đường Thái Tông là người thông minh tài trí, biết mang lại hạnh phúc cho nhân dân, biết xây dựng những nền tảng vững chắc cho đất nước, chính vì vậy mà triều đại nhà Đường được xem là thời kì hưng thịnh nhất trong lịch sử Trung Hoa. Sở dĩ Đường Thái Tông có thể thống nhất được đất nước, lại làm cho đất nước thêm vững mạnh như thế, là do vua biết nghe lời can gián một cách chân thành, biết sai liền sữa, dám nhìn nhận sai sót của mình, mạnh dạn sửa đổi những gì chưa đúng, chính vì vậy Thái Tông được xem là một vị vua có đạo đức

Triều đại nhà Đường được thành lập sau nhà Tùy, do Dạng Đế nhà Tùy hoang dâm vô đạo, làm cho người dân Trung Hoa thời ấy rơi vào cảnh đói rách lầm than, không biết nương tựa vào ai, nên Lý Uyên đã đứng lên khởi nghĩa, nhằm đem lại thanh bình cho đất nước. Lúc bấy giờ còn nhiều phe nhóm khác nổi lên tranh giành quyền lực, thế nhưng chỉ có người tài đức mới làm chủ được thiên hạ, Đường Cao Tổ Lý Uyên đã xử trí tốt việc quốc gia, lại còn dẹp được các nhóm xưng hùng xưng bá khác

Đường Thái Tông họ Lý tên Thế Dân, là người con thứ của Đường Cao Tổ, từ nhỏ Thế Dân đã tỏ ra rất thông minh, tuấn tú khỏe mạnh, ứng văn, đấu võ đều rất thông thạo, văn chương cũng rất uyên thâm. Sau khi lên ngôi, Thái Tông khéo biết dùng người, tùy theo sở trường của từng người mà giao trọng trách, tuyển chọn người hiền tài phục vụ việc nước; đối với các nước lân bang Thái Tông luôn dùng chính sách giao hòa. Phía quan văn có Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối (1) và Ngụy Trưng; tướng võ có Lý Tịnh (2), Lý Tích (3)v.v..; chính nhờ Thái Tông biết dùng người tài đức, biết nghe lời can gián chân thành, quí trọng và đối đãi hết lòng với kẻ sĩ, do đó mà nhân tài qui tụ chính sách rõ ràng, thế lực đất nước thêm hùng mạnh. Sử sách gọi giai đoạn này là "Trinh Quán chi Trị" (Thời vàng son của niên đại Trinh Quán, hay sự thịnh trị của niên đại Trinh Quán).

Đặc biệt Ngụy Trưng, trông có vẻ rất bình thường, chẳng có gì hơn người, nhưng lòng ông vững như sắt, ý chí cứng như thép, không sợ đầu rơi, chỉ biết một lòng trung trinh với vua, vì dân vì nước, chẳng màng đến những vấn đề khác, cũng chính nhờ đức tính ấy mà Ngụy Trưng thường giúp vua làm công việc "phi lân". "Phi lân" nghĩa là sao? Tức là nhổ vãy rồng, có ý nói là lúc hoàng đế có những sai sót gì thì ông ta liền dùng lời ngay mà can gián, chỉ rõ những sai lầm của vua mà không hề sợ phải đắc tội, không hề sợ chết, đây mới đáng gọi là trung thần. Trung thần thì không sợ chết, nếu sợ chết thì không được gọi là trung thần. Nhờ có được cận thần trung trinh như vậy mà Đường Thái Tông mới có thể thành tựu được đại nghiệp, thành công ở hai mặt văn hóa và chính trị, cũng như thành công trong đường lối trị quốc an dân, nên vào triều đại nhà Đường, các nước lân bang đều biết đến nước Đại Đường, gọi Trung Hoa là "Thiên Triều", gọi hoàng đế Trung Hoa là "Thiên Khả Hãn".

Phòng Huyền Linh, Ngụy Trưng, Lý Tịnh và Lý Tích đều là những trung thần không hề sợ chết, một lòng trung trinh, nhờ đó mà họ đã cùng nhau xử lý tốt việc quốc gia; họ đều là những người vô tư, không tham ô, chỉ biết để tâm lo việc quốc gia đại sự. Nhạc Phi, một võ tướng của triều Tống từng nói:"Quan văn không tham tài, Tướng võ không sợ chết, những con người như thế chắc chắn sẽ xử lý thành công việc quốc gia đại sự". Liên quan đến Ngụy Trưng, có một câu chuyện về "Rồng trắng" (Tiểu Bạch Long) như thế này.

Mọi việc trong cuộc sống ở nhân gian chúng ta là do chính phủ quản lý, nhưng chính phủ ở nhân gian không thể quản lý được những chuyện cho mưa, làm gió, triều cường, hạn hán, lũ lụt; những việc này cũng đã có người cai quản cả, là do thần trên trời quản lý; đạo Cơ Đốc và đạo Thiên Chúa cho là do Chúa Trời quản lý, Chúa Trời ở đây cũng như Ngọc Hoàng Thượng Đế mà người Trung Hoa nói. Đúng như thế, lượng mưa xuống bao nhiêu, gió thổi nhiều hay ít đều có sự nhất định, và đều do Ngọc Hoàng Thượng Đế quyết định.

Có một lần, Ngọc Hoàng sai một thần rồng cho mưa xuống trần gian vừa đủ ba tấc ba nước thôi, thế nhưng có lẽ vì nghe nhầm mà thần rồng kia đã cho mưa xuống đến ba thước ba nước; (một thước Tàu tương đương 23,1cm). Một lần mưa mà nhiều nước đến như thế làm cho rất nhiều nhà cửa, cây trái bị ngập chết cả, rất nhiều người lâm vào cảnh đói khát, một số đã chết vì đói, trận mưa đó đã gián tiếp hại không biết bao nhiêu sinh mạng.

Vì rồng đã làm trái lệnh của Ngọc Hoàng đã cho mưa ngập lụt ở trần gian, nên đã bị Ngọc Hoàng xử tội chết. Nhưng để giết rồng trắng này không cần phải nhờ đến tay vị thần nào cả, cũng không cần quỉ hay loài rồng khác đi giết, thế thì sai ai đi giết đây? Ngọc Hoàng liền chọn ngay ông quan giám trảm, chính là quan Ngụy Trưng. Vì sao tướng mạo của Ngụy Trưng lại thô kệch xấu xí thế? Có thể là do Ngụy Trưng đã chuyển kiếp từ loài rồng, nên trông rất xấu, nhưng ông lại có cái uy thần của loài rồng, có sức mạnh của loài rồng. Trong triều, Ngụy Trưng làm giám sát ngự sử, trên trời ông cũng làm quan; tuy ông ta là một con người nhưng linh hồn ông vẫn có công việc trên thiên đình. Công việc ở thiên đình chỉ là nghĩa vụ chứ không vì bổng lộc nào, chúng ta tin rằng lúc bấy giờ ông làm quan cho triều đình cũng không vì mong cầu bổng lộc, bởi vì con người ông vốn như thế nên không hề mưu cầu làm quan để phát tài; sống đó, chết đó cũng là chuyện bình thường đối với ông.

Ở trên thiên đình Ngụy Trưng cũng có nhiệm vụ, cũng có chức vị; lần này thì Ngọc Hoàng sai Ngụy Trưng đi giết rồng trắng, vì tội làm mưa lũ trái ý trời. Nhưng rồng trắng cũng có chút pháp thuật, biết Ngọc Hoàng sai Ngụy Trưng đi chém đầu mình. Chừng như Ngụy Trưng cũng có kiếm chém rồng, một nhát có thể giết được loài rồng. Thế là rồng trắng đã đến cầu cứu Đường Thái Tông, bằng cách dùng thần thông báo mộng cầu xin vua cứu mạng. Thái Tông hỏi nó: “Tại sao ngươi bị người ta giết?”. Nó liền thuật lại đầu đuôi sự việc là Ngọc Hoàng sai nó chỉ làm mưa ba tấc ba nhưng nó đã mưa đến ba thước ba, nhiều hơn gấp mười lần, nên đã phạm phải luật trời, phải bị chém đầu. Thế thì người chém đầu rồng trắng là ai? Chính là ông quan giám sát ngự sử Ngụy Trưng, một đại thần trong triều của Đường Thái Tông. Rồng trắng nói: “Vào giờ đó, ngày đó, tháng đó ngài cứ ngồi đánh cờ với Ngụy Trưng, hai người ở bên nhau, ngài đừng để ông ấy đi đâu cả, như thế ông ấy sẽ không có thời gian đến xử tội, qua thời gian đó tôi sẽ không bị giết nữa”. Rồng trắng khẩn cầu Thái Tông dù thế nào cũng phải nhất định giữ lời. Thái Tông nói: “Việc này dễ thôi! Ta có thể vào ngày đó, giờ đó không rời xa Ngụy Trưng, ông ấy sẽ không thể giết ngươi được.”

Vào ngày hôm ấy, Thái Tông cho gọi Ngụy Trưng đến đánh cờ, vua nghĩ: “Đánh xong ván cờ này dù thắng hay thua thì ông cũng không còn thời gian đi giết rồng rồi!” Nhưng không ngờ đang lúc đánh cờ thì Ngụy Trưng ngủ thiếp từ lúc nào không hay, ông ngủ rất say sưa. Thái Tông nghĩ bụng: “Ô! Bây giờ thì ngươi đã ngủ say rồi, dù thế nào thì cũng không rời xa ta được, ta cũng sẽ không đánh thức ngươi dậy làm gì, ngươi cứ ở đây mà ngủ!” Ngủ được một lúc, khoảng một khắc hay nửa giờ sau thì Ngụy Trưng tỉnh lại, rồi tiếp tục đánh cờ với vua. Thái Tông không ngờ rằng, chính lúc Ngụy Trưng đang ngủ say đó là lúc thần hồn của ông ta đã đi chém đầu rồng trắng rồi.

Rồng trắng kia cũng có linh hồn, oan hồn của rồng chưa tan được nên tối hôm ấy đã đến tìm Thái Tông, rồng bảo: “Ông vua kia, ông hãy trả lại mạng sống cho tôi!” Thái Tông bèn nói: “Tại sao lại đòi ta trả mạng sống cho ngươi? Hôm ấy ta đã giữ Ngụy Trưng cùng ở một chỗ với ta rồi, ta cũng chẳng rời ông ấy, ông ấy cũng chẳng rời ta, làm sao có thể đi giết ngươi được?” “Ây da!” Rồng lại than: “Chính là lúc Ngụy Trưng đang ngủ, thần hồn của ông ấy đã đến giết tôi. Cũng vào những lúc như thế ông ta có thể lên thiên đình để làm việc.” “Thế thì làm sao ta biết được? Ngươi không thể đòi mạng ta! Cái này chẳng thể trách ta, ta chẳng hề biết ông ấy có tài cán đó.” “Không được! Dù thế nào ông cũng phải trả lại mạng sống cho tôi!” Cứ như vậy, rồng trắng đêm đêm vào hoàng cung phá phách, đòi Thái Tông đền mạng.

Thái Tông rất rầu rĩ về chuyện này, chẳng biết tính sao, bèn chọn các đại thần trong triều thay nhau đến hộ giá, hết đại thần này đến đại thần kia, song vẫn không làm cho rồng trắng sợ hãi, nó vẫn cứ thường xuất hiện. Sau đó đến lượt Tần Quỳnh và Úy Trì Kính Đức đến hộ giá, hai vị đại tướng này vừa đến đã làm cho rồng trắng khiếp đảm bỏ chạy, bởi vì hai vị này là khắc tinh của rồng trắng. Từ đó về sau, mỗi tối hai vị tướng này đều đến hộ giá cho hoàng đế. Qua một thời gian lâu, Thái Tông thấy hai vị tướng này quá mệt nhọc, cũng thấy không đành lòng nên đã cho vẽ hình của hai vị tướng này lên cửa. Tối đến rồng trắng đến trước cửa, thấy hình dạng của hai vị đại tướng quân này oai vệ như thiên tướng nên đã không dám đến gần nữa. Do đây mà có việc dán hình thần giữ cửa trên cửa, nhà người dân đều có dán hình của Úy Trì và Tần Thúc Bảo (Tần Quỳnh), thỉnh hai vị này làm thần giữ cửa, cứ như thế lâu dần trở thành tập tục dân gian của người Trung Hoa. Đây rõ ràng là một truyền thuyết dân gian, nhưng trong đó đều có liên quan đến những sự kiện trên.

Lòng trung trinh đối với quốc gia của Ngụy Trưng bao la như trời đất, nên ông không những chỉ làm quan ở nhân gian mà còn làm quan ở thiên đình. Lúc Đường Thái Tông còn tại vị, ngay cả thiên tướng cũng đến hộ giá, do vậy trong thời gian làm vua của Đường Thái Tông cả hai mặt văn hóa và chính trị đều được phát triển tốt đẹp như thế. Khi Ngụy Trưng qua đời, Đường Thái Tông đã phải tiếc thương mà cảm than rằng:

“Như người ta lấy đồng làm gương soi, để chỉnh sửa áo mão; lấy việc xưa làm gương soi, mà biết được việc thịnh suy ở đời; lấy người làm gương soi để thấy cái đúng cái sai của chính mình. Ta thường giữ ba thứ gương soi này để phòng cái lỗi của chính mình. Nay Ngụy Trưng mất đi, một tấm gương theo đó mà vỡ tan rồi”.

Chính là nói: Nếu như dùng đồng làm gương soi, soi vào đó thì có thể thấy được áo quần mình đang mặc có ngay thẳng hay không. Lấy chuyện của lịch sử xưa nay, lấy người xưa làm tấm gương soi, thì có thể thấy được cái lý của chuyện hưng thịnh suy vong, thái bình loạn lạc, điều gì nên phát triển, điều gì nên thay đổi, đều có thể biết. Nếu như lấy một con người nào đó làm tấm gương soi, thì có thể thấy rõ những việc đúng sai của con người, điều gì nên làm, điều gì không nên làm; thấy những cái hay của người khác thì học hỏi từ họ, thấy những cái xấu của người khác thì trở lại nhắc nhở mình, tránh những sai sót tương tự. Ta thường giữ ba tấm gương soi này để phòng ngừa những sai sót của chính mình; giờ Ngụy Trưng đã mất, ta đã mất đi một tấm gương soi.

Vừa rồi vì sao tôi nhờ thầy giáo họ Châu giảng lại cho mọi người nghe chuyện “Đường Thái Tông đã nghe lời khuyên của hoàng hậu như thế nào”, quý vị nghe rồi cảm thấy rất thú vị, thực ra đây là sự thật. Đường Thái Tông vốn dĩ có được niên đại Trinh Quán thái bình, chính là vì vua biết chân thành lắng nghe lời can gián, sửa sai theo đúng, biết sai liền sửa, mà không hề nghĩ đến sự tôn nghiêm của một vị hoàng đế. Quý vị xem qua bao triều đại, những hoàng đế biết nghe lời can gián đều là những vị vua sáng suốt; những hoàng đế không biết nghe lời can gián, không chịu nghe lời trung của quần thần đều là những ông vua tàn bạo. Nếu đất nước có những vị trung thần không sợ chết, đó cũng là một điều may mắn. Những bậc trung thần đều là những con người hiên ngang không sợ chết, cái chết đối với họ không là gì cả; còn kẻ gian thần thì rất sợ chết, họ chỉ muốn giữ lấy mạng sống của mình, còn việc quốc gia thế nào cũng chẳng màng.

Năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán, Đại sư Huyền Trang thỉnh kinh từ Ấn Độ trở về, Thái Tông truyền lệnh cho ngài dịch “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử ra tiếng nước ngoài. Vì sao vua muốn ngài dịch “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử? Bởi Thái Tông nghĩ rằng “Đạo Đức Kinh” rất có tính triết lý, là một bảo bối của Trung Hoa, là một bộ sách có giá trị nhất, do đó nên cho người dịch bộ sách đó ra Phạn ngữ. Đây được xem là sự khởi đầu cho việc phiên dịch kinh điển Trung Hoa ra tiếng nước ngoài.

Đại sư Huyền Trang còn vâng chiếu chỉ của Đường Thái Tông, phiên dịch bộ Kinh Đại Bát Nhã gồm sáu trăm cuốn. Trong thời gian dịch Kinh Đại Bát Nhã, hoa đào đã sáu lần trổ hoa – cây hoa đào trong đạo tràng dịch kinh trong vòng một năm, hoa rụng rồi lại nở, nở rồi lại rụng, cứ như thế hoa nở đến sáu lần, đây là hiện tượng từ xưa đến nay chưa từng thấy. Vì sao có hiện tượng ấy? Đó chính là một điềm lành, điều cảm ứng, cho thấy Kinh Đại Bát Nhã là một bộ kinh rất quan trọng trong Phật giáo, rất có sức mạnh cảm hóa con người. Lúc Đức Phật còn tại thế cũng đã từng nói, vào thời mạt pháp, Kinh Đại Bát Nhã đặc biệt quan trọng đối với việc hoằng dương Phật pháp trên đất nước Chấn Đản (tên nước Trung Hoa theo cách gọi xưa của người Ấn Độ). Thế nên mấy năm gần đây chúng tôi đã cho in lại bộ Kinh Đại Bát Nhã, việc này là một phần trong công tác hoằng dương Phật pháp.

Vào thời đại nhà Đường, Phật pháp rất thịnh hành. Trong thời kỳ Phật pháp hưng thịnh nhất, ảnh hưởng cả người Nhật Bản không ngại ngàn dặm xa xôi, đã phái chư tăng vượt biển đến Trung Hoa lưu học. Trước sau, Nhật Bản từng có đến mười tám lần phái sứ thần đến cống tặng phẩm vật và phái chư tăng đến Trung Hoa lưu học. Trong số ấy có vị tăng tên là Pháp sư Không Hải, sau khi trở về Nhật đã sáng lập ra tông Chân Ngôn, đồng thời phỏng theo chữ thảo của người Trung Hoa để phát minh ra một kiểu chữ của Nhật Bản gọi là “Bình Giả Danh”.

Lúc bấy giờ, các nước lân cận đều có cống nạp cho Trung Hoa, cho rằng nước Trung Hoa là “thiên triều”, là Đại Đường. Cho nên, đến nay người nước ngoài đều biết đến “người nhà Đường” (Đường nhân), bây giờ đến đâu cũng thấy có “phố Đường Nhân” (Lấy chữ “Đường nhân” đặt tên đường, tên phố). Quý vị xem, uy danh của triều đại nhà Đường ghê gớm đến như thế, nên khắp nơi đều có “phố Đường Nhân,” chứ không thấy nói “phố Trung Hoa”. Người nước ngoài đều biết nước Trung Hoa được gọi là “nhà Đường” (Đường triều), do đây có thể biết rằng triều đại nhà Đường đã từng có một thời kỳ cực thịnh, vững mạnh và thịnh trị so với mọi thời đại, cho đến các triều đại như Tống, Minh, Thanh so với triều đại nhà Đường đều thua kém rất nhiều.

Khen rằng:

Đường đại thánh quân, Trinh Quán chi thời (Vị vua anh minh Đại Đường, Thời kỳ vàng son Trinh Quán): Đời Đường có vị vua đức độ sáng suốt, niên hiệu là Trinh Quán, đó chính là Đường Thái Tông. Thế nào là minh quân? Đó là vị vua có cái tâm vô tư tiếp nhận lời phê bình, sửa cái sai theo cái đúng, chân thành nghe lời can gián.

Thiên hạ quy tâm, tứ hải cống chí (Thiên hạ một lòng quy về, khắp nơi đều đến triều cống): Lúc bấy giờ khắp nơi đều rất kính phục Thái Tông, nước ngoài đều đến cống nạp phẩm vật.

Văn lược võ công, tướng tướng hiền sĩ (Văn hóa cùng võ trang, quan tướng đều là người hiền): Tình hình văn hóa và quân sự trong thời kỳ tại vị của Thái Tông đều đáng cho người ta nể phục, những quan văn tướng võ thời ấy đều là bậc tài đức sáng suốt. Chữ “將” (tướng) là nguyên soái, quan võ; chữ “相” (tướng) là quan văn.

Thiện ư dụng nhân, quốc gia đại trị (Khéo léo dùng người, đất nước thanh bình): Đường Thái Tông rất khéo dùng người, biết rõ cái hay của từng người mà giao đúng nhiệm vụ. Bởi vua có khả năng khéo dùng đúng người, nên đất nước mới được hưng thịnh.

Lại nói lời kệ rằng:

Uy chấn trung ngoại phục tứ di (Uy danh vang lừng trong ngoài, quy phục cả bốn tộc): Uy đức của Đường Thái Tông đã khiến cho trong nước Trung Hoa và nước ngoài đều rất nể phục. Tứ Di là Đông Di (tộc Di phía Đông), Tây Nhung (tộc Nhung phía Tây), Nam Man (tộc Man phía Nam ), Bắc Địch (tộc Địch phía Bắc), tất cả đều quy phục thiên triều Đại Đường

Đức bị hà nhĩ vọng lai tề (Đức độ được khắp nơi cùng ngưỡng mộ): Trong nước ngoài nước đều ngưỡng mộ đức hạnh của Thái Tông, nếu cho rằng triều nhà Đường trị vì đất nước rất tốt, nên đều mong được đón nhận ân đức của Thái Tông đến với đất nước của họ, triều Đường cũng mong người nước ngoài đên cống nạp phẩm vật. Chữ “vọng lai tề” có hai nghĩa như thế.

Ngụy Trưng trung liệt tá Đế tòa (Quan Ngụy Trưng trung thành phò tá bên vua): Ngụy Trưng là người biết pháp thần thông, ông ta cũng đến để phò tá Đường Thái Tông trị vì đất nước.

Tần Quỳnh anh dũng bảo sơn hà (Tướng Tần Quỳnh anh dũng giữ gìn giang san): Tần Thúc Bảo cũng là vị tướng rất anh dũng, sức mạnh hơn người, là người có thể giữ gìn giang san nhà Đường được yên ổn.

Huyền Linh văn công an xã tắc (Tướng Huyền Linh giúp xã tắc an bình bằng sự thông thái của mình): “Xã” là thần đất, “Tắc” là thần mùa màng (thần Nông), đây là tên của hai vị thần trong các lễ cúng tế mang tính quốc gia. Các vị hoàng đế xưa nay đều làm lễ tế thần Xã Tắc trong hai mùa Xuân và Thu, an định xong thần Xã, Tắc thì đất nước cũng nhờ đó mà được mưa thuận gió hòa, quốc gia thái bình nhân dân an lạc, đây cũng là sức mạnh của quan văn, mà sự thông thái của Phòng Huyền Linh đủ để giúp cho quốc gia được an lạc, ổn định.

Nhân Quý võ huân hoá can qua (Nhân Quí tài ba dẹp hết những mối họa đao binh): Tiết Nhân Quý võ nghệ phi phàm, nên nói “hóa can qua”, là dẹp được các cuộc đao binh, biến dao gươm thành ngọc lụa, có nghĩa là vốn có những nơi chưa phục tùng, và đều nhờ Nhân Quý mà đã thuận phục được họ.

Đại Đường thạnh thế lưu phương viễn (Tiếng thơm đời thịnh của Đại Đường vang xa): Thế lực đời Đại Đường rất hùng mạnh, uy danh truyền khắp, người nước ngoài đều biết đến nước Đại Đường

Truyền biến Nam Bắc dữ Đông Tây (Truyền khắp Nam Bắc và Đông Tây): Danh tiếng của nhà Đường vang lừng khắp thế giới, khắp nơi trên thế giới đều biết nước Đại Đường; nên chúng ta là người Đại Đường, đây đều là núp bóng của hoàng đế Đường Thái Tông cả.

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng vào ngày 11 tháng 09 năm 1987

Chú thích :

Chú thích 1: Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối là hiền tướng của thời kỳ khai quốc nước Đại Đường, sau khi Thái Tông lên ngôi, hai ông giữ chức tả hữu Thượng Thư, cùng chung sức lo việc triều chính, một thời được ca tụng là “Phòng Đỗ”. Phòng Huyền Linh trong coi việc chỉnh sửa quốc sử, sửa đổi hoặc bỏ đi những điều luật không hợp lý, nên luật pháp Đại Đường rất công chính nghiêm minh.

Chú thích 2: Lý Tịnh, một đại tướng thời khai quốc nước Đại Đường, một nhà quân sự, đối với kỷ luật quân đội rất nghiêm túc rõ ràng, dùng binh nhanh chóng như thần, ông có công bình định được Giang Nam và các vùng biên cương

Chú thích 3: Lý Tích, một đại tướng thời khai quốc nước Đại Đường, ông vốn là họ Dư, sau khi quy phục vua Đường được vua cho đổi thành họ Lý. Vào thời Đường Thái Tông, ông cùng Lý Tịnh đối với triều đình rất có công lao.

Chú thích 4: Tần Quỳnh, tự là Thúc Bảo, một đại tướng của thời khai quốc nước Đại Đường, rất có khí tiết, oai dũng thiện chiến, thường làm tướng tiên phong, tham gia rất nhiều trận chiến.

Chú thích 5: Úy Trì Kính Đức, một đại tướng thời kỳ khai quốc nước Đại Đường, ông vốn là một viên tướng của một trong những nhóm hào hùng khác trong thời cuối đời Tùy, sau đó đầu hàng nhà Đường, Thái Tông thấy ông biết là người tài, về sau lập được nhiều chiến công.

Chú thích 6: Sau khi Đường Thái Tông lên ngôi, lập người họ Trưởng Tôn làm hoàng hậu. Hoàng hậu Trưởng Tôn là người hiền đức và thông minh, giản dị tiết kiệm, hoàng hậu chỉ chọn dùng những thứ thực sự cần thiết. Hoàng hậu thường khuyên Thái Tông không nên cho anh em bà con bên nhà mình làm quan trong triều, cũng để trừ cái họa ngoại tộc; bà còn đề nghị ban thưởng các vị trung thần, dùng lời khéo khuyên Thái Tông nên biết chân thành nghe lời khuyên gián. Do đó, Thái Tông rất kính trọng, thường cùng bà bàn bạc chuyện thưởng phạt trong triều. Hoàng hậu mất năm 36 tuổi, từng góp nhặt gương sáng của những phụ nữ ngày xưa, trước tác cuốn《Nữ Tắc》(Phép Tắc Người Phụ Nữ). Có lần, sau khi bãi triều, Đường Thái Tông sắc mặt giận dữ mắng: “Ta không giết tên này là không được!”, hoàng hậu Trường Tôn vội vàng hỏi: “Bệ hạ đang nói ai?” Thái Tông trả lời: “Là nói Ngụy Trưng chứ ai, hắn suốt ngày ở điện Kim Loan làm nhục ta trước mặt bá quan”. Hoàng hậu Trường Tôn im lặng lui ra, thay y phục hoàng hậu, đứng ở giữa sân, chuẩn bị triều bái. Thái Tông vô cùng kinh ngạc, hỏi có chuyện gì, hoàng hậu đáp: “Thiếp nghe rằng nếu vua là người hiền minh, thì thần mới dám dùng lời thẳng thắn để can gián; Ngụy Trưng đã ngay thẳng như thế, đều là do bệ hạ là người hiền minh, nên mới nói với bệ hạ những lời ấy!” Thái Tông thay đổi sắc mặt mỉm cười. Để bảo vệ sự tôn nghiêm của hoàng đế Thái Tông, hoàng hậu Trường Tôn đã khéo léo hóa giải được nguy cơ mất mạng của Ngụy Trưng, đồng thời cổ vũ cho Đường Thái Tông sự chân thành lắng nghe lời can gián.

HÁN VŨ ĐẾ

Hán Vũ Đế
Vua Trung Quốc (chi tiết...)
Tại vị 9 tháng 3, 141 TCN - 29 tháng 3, 87 TCN

Tiền nhiệm Hán Cảnh Đế
Kế nhiệm Hán Chiêu Đế
Tên đầy đủ
Lưu Triệt
Niên hiệu
Kiến Nguyên 140 TCN - 135 TCN
Nguyên Quang 134 TCN - 129 TCN
Nguyên Sóc 128 TCN - 123 TCN
Nguyên Thú 122 TCN - 117 TCN
Nguyên Đỉnh 116 TCN - 111 TCN
Nguyên Phong 110 TCN - 105 TCN
Thái Sơ 104 TCN - 101 TCN
Thiên Hán 100 TCN - 97 TCN
Thái Thủy 96 TCN - 93 TCN
Diên (Chinh) Hòa 92 TCN - 89 TCN
Hậu Nguyên 88 TCN - 87 TCN

Thụy hiệu Vũ Đế
Miếu hiệu Thế Tông
Hoàng tộc Nhà Tây Hán
Thân phụ Hán Cảnh Đế
Sinh 156 TCN

Mất 87 TCN


Hán Vũ Đế (156 TCN - 87 TCN), tên là Lưu Triệt, là Hoàng đế thứ 5 triều Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là con thứ 10 của Hán Cảnh Đế Lưu Khải, ở ngôi từ năm 140-87 TCN. Tiểu sử của ông được ghi tại Hán thư, quyển 6 "Vũ Đế kỷ" và Sử ký, quyển 28 "Phong thiện thư".

Do kiêng tên húy của ông, các sách vở Trung Quốc thời đó phải viết chữ Triệt ra chữ Thông. Sau này một số sách vở dùng tư liệu của đời Hán soạn cũng chép chữ Triệt là Thông.

Trong 54 năm trên ngôi Hoàng đế, Hán Vũ Đế đã làm nhiều việc củng cố nên thống trị và mở cửa ra bên ngoài.




Những thay đổi ban đầu
Hán Vũ Đế là một vị vua hùng tài đại lược trong lịch sử Trung Quốc, đã củng cố và tăng cường chế độ tập quyền trung ương của xã hội phong kiến Trung Quốc. Năm 140 TCN, ông lên ngôi vua lúc mới 16 tuổi, năm sau ông bắt đầu lấy niên hiệu là "Kiến Nguyên", lập tức bắt tay vào thay đổi chính trị. Hán Vũ Đế đã tiếp thu một cách có hệ thống tư tưởng trị nước của Đổng Trọng Thư, lấy làm công cụ để củng cố chính quyền. Năm Kiến Nguyên thứ nhất (141 TCN), ông tổ chức chọn những hiền lương có tài để giúp ông trị nước. Lần này chỉ chọn những nhà nho, còn những nhân sĩ theo phái Pháp gia không được dùng. Sử sách sau này gọi là "bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật". Về sau, lập Thái học vào năm Kiến Nguyên thứ 5 (136 TCN), bắt đầu lập ra Bác sĩ Ngũ kinh. Năm Nguyên Quang đầu tiên (134 TCN) bắt đầu ra lệnh cho các quận tiến cử Hiếu liêm mỗi nơi một người, đều theo lời của Đổng Trọng Thư.


Đối nội
Hán Vũ Đế thi hành chính sách dẹp hết Bách gia, chỉ để cho Nho thuật độc tôn.

Hán Vũ Đế đã thi hành nhiều chính sách tàn bạo, bóc lột nhân dân thậm tệ, vét sách của cải trong dân nên không được lòng dân.

Tương truyền Hán Vũ Đế tính tình hung bạo, nét mặt đanh ác, giết người không gớm tay, nên trong dân chúng mọi người thường hù dọa nhau bằng tên của Hoàng đế. Trẻ con khóc, mẹ nói đến tên Hán Vũ Đế là nín ngay. Những người yếu bóng vía, mỗi khi Hán Vũ Đế xuất hiện trên đường đều không dám nhìn mặt.

Những năm cuối đời do chính sách bóc lột nhân dân thậm tệ của Hán Vũ Đế nên xã hội đã xảy ra nhiều cuộc bạo động của nông nô, nô tỳ và tiểu nông ở các nơi như:

Nam Dương có Nai Diễn, Bách Chính.
Đất Sở có Đoạn Trung, Độ Chiến.
Đất Tề có Từ Bột.
Đất Yên, Triệu có Kiên Lô, Phạm Chủ.
Đông đảo quần chúng tham gia đánh phá các thành, ấp, chiếm kho lương, thả tù nhân, vạch tội ác quan lại quận huyện, giết chết bọn ác ôn.


Đối ngoại
Hàn Vũ Đế đã khuếch trương thế lực, ngăn chặn được cuộc xâm lăng lúc nào cũng phải bận tâm của Hung Nô ở phương Bắc từ thời Chiến Quốc.

Trong cuộc đời ông, công trạng của ông được nhắc đến là đánh tan được sự uy hiếp và xâm nhập biên cương của Hung Nô.Sau khi ông lên ngôi, tình hình vương triều đã khác trước, kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đời sống ấm no, chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho vị Hoàng Đế này khuếch trương thế lực ra bên ngoài.

Mấy năm đầu, Hán Vũ Đế vẫn tiếp tục chính sách hòa thân với Hung Nô, lợi dụng lòng tham của bọn quý tộc Hung Nô, mở rộng cửa quan buôn bán. Mặt khác, Hán Vũ Đế chuẩn bị lực lượng chuyển thế thủ thành thế công.

Năm 129 TCN, Đế quốc Tây Hán chính thức tiến công Hung Nô, kéo dài đến năm 127 trước Công Nguyên, thu được nhiều thành trì ở Nội Mông Cổ, Hà Nam.

Từ năm 124, đến năm 119 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế thường xuyên dùng từ 10 đến 20 vạn quân đánh phá Hung Nô, nhiều lần quân Hung Nô bại trận, người và của tổn thất rất nhiều. Từ đó, Hung Nô chạy xa không dám quay lại, xóa được nạn Hung Nô uy hiếp triều đình. Thời kỳ này có các danh tướng như Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh lần lượt xuất binh Bắc phạt qua cửa ải Nhạn Môn Quan.

Chính sách đối ngoại khuếch trương của Hán Vũ Đế không những dẹp yên nạn xâm lăng, mở rộng bờ cõi phương Bắc mà còn đánh chiếm và đưa tay thống trị xuống phía nam - Nam Việt, đông - Koguryo (Cổ Triều Tiên), tây - Tân Cương, biên cương mở rộng.

Nước Trung Hoa thời đại Hán Vũ Đế không những là một nước lớn ở Đông Á mà còn là một nước lớn của thế giới: nhân khẩu đông, của cải giàu có.

Hán Vũ Đế qua đời năm 87 TCN, hưởng thọ 70 tuổi. Ông là Hoàng đế ở ngôi lâu nhất và thọ nhất nhà Tây Hán. Con nhỏ của ông là Hán Chiêu Đế lên ngôi, được Đại Tư Mã Đại Tướng Quân Hoắc Quang giúp sức, tiếp tục sự phồn thịnh của nhà Tây Hán qua 2 đời Chiêu Đế (87 TCN - 74 TCN), Tuyên Đế (74 TCN - 49 TCN)]]

HỐT TẤT LIỆT_hoàng đế nhà Nguyên

Hốt Tất Liệt (23/9/1215[6] - 18/2/1294[7]) (tiếng Mông Cổ: Хубилай хаан, chữ Hán: 忽必烈; bính âm: Hūbìliè) là đại hãn thứ năm của Mông Cổ đồng thời là người sáng lập ra nhà Nguyên. Ông là con trai thứ hai của Đà Lôi với vợ cả là Sorghaghtani Beki (Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni), nhưng là con trai thứ tư[8] khi tính cả các con của các bà vợ bé, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn.

Năm 1260, Hốt Tất Liệt đã trở thành đại hãn của đế quốc Mông Cổ sau khi anh trai ông là đại hãn Mông Kha chết năm trước đó, mặc dù em trai ông là A Lý Bất Ca (Ariq Böke) cũng tự xưng là đại hãn tại kinh đô của đế quốc Mông Cổ vào thời điểm đó là Karakorum. Cuối cùng ông đã giành thắng lợi trước A Lý Bất Ca vào năm 1264, và mặc dù cuộc tranh giành quyền kế vị đã đánh dấu sự kết thúc của sự thống nhất chính trị trong nội bộ đế quốc Mông Cổ, nhưng đế quốc này về tổng thể vẫn là thống nhất và hùng mạnh[9]. Ảnh hưởng của Hốt Tất Liệt vẫn còn mạnh tại hãn quốc Y NhiKim Trướng hãn quốc, các phần phía tây của đế quốc Mông Cổ[10].

Năm 1271, Hốt Tất Liệt thành lập nhà Nguyên, vào thời gian đó kiểm soát các khu vực ngày nay thuộc Mông Cổ, Hoa Bắc, phần lớn miền tây Trung Quốc và các khu vực cận kề, và ông có địa vị của một Hoàng đế Trung Hoa. Năm 1279, quân đội nhà Nguyên cuối cùng đã đánh bại Nam Tống và như thế Hốt Tất Liệt đã trở thành hoàng đế Trung Hoa một cách đầy đủ. Miếu hiệu của ông là Nguyên Thế Tổ (tiếng Trung: 元世祖).

Dưới sự lãnh đạo của ông, đế quốc Mông Cổ đã đạt đỉnh điểm của sự hưng thịnh. Ông đã dời đô từ Hoa Lâm về Đại Đô tức Bắc Kinh ngày nay. Vào năm 1271 ông đã lập triều đại của người Mông Cổ mang tên nhà Nguyên. Năm 1279 quân đội của ông tiêu diệt nhà Nam Tống (1127-1279), thống nhất Trung Quốc.

Tất cả các vương quốc nằm cận kề với đế quốc Mông Cổ đều trở thành các nước chư hầu lệ thuộc. Mộng của Hốt Tất Liệt nhắm thôn tính cả Nhật Bản, Đại Việt, BaganJava không thành. Mặc dù rằng Hốt Tất Liệt theo đạo Phật nhưng ông lại cũng để ý đến sự phát triển của đạo Kitô trên thế giới và đã mời các sứ giả truyền đạo này vào Trung Quốc. Ông cũng chú trọng đến việc phát triển các nghề thủ công, khoa học và nghệ thuật. Một trong những người ngoại quốc đã đến thăm triều đình này là Marco Polo.

Hốt Tất Liệt chấp nhận các mô hình chính trị và văn hóa Trung Hoa, cố gắng giảm thiểu ảnh hưởng của các lãnh chúa địa phương, những người đã nổi lên nắm quyền lực trong thời kỳ cuối của nhà Tống. Tuy nhiên, do mất niềm tin vào người Hán nên ông đã chỉ định người Mông Cổ, người Trung Á, người Hồi giáo và một ít người châu Âu vào các vị trí cao hơn người Hán. Hốt Tất Liệt bắt đầu nghi ngờ người Hán khi con rể của một vị bình chương chính sự người Hán lại nổi dậy chống lại ông trong khi ông đang phải quyết đấu với A Lý Bất Ca tại Mông Cổ[11] cho dù ông vẫn tiếp tục mời và sử dụng một số cố vấn người Hán như Lưu Bỉnh Trung, Hứa HànhDiêu Xu.

Năm Chí Nguyên thứ 8 (1271), Hốt Tất Liệt chính thức tuyên bố lập ra nhà Nguyên và đặt kinh đô tại Đại Đô (tiếng Trung: 大都; Wade-Giles: Ta-tu, nghĩa là "kinh đô lớn", ngày nay là Bắc Kinh) hay còn gọi là Hãn Bát Lý (Khanbaliq) vào năm sau đó. Kinh đô mùa hè của ông đặt tại Thượng Đô (tiếng Trung: 上都, nghĩa là "kinh đô trên", hay Xanadu, gần với Đa Luân (多伦) ngày nay). Để thống nhất Trung Quốc[12], Hốt Tất Liệt bắt đầu một chiến dịch rộng lớn chống lại những lực lượng còn sót lại của Nam Tống vào năm Chí Nguyên thứ 11 (1274) và cuối cùng tiêu diệt Nam Tống vào năm Chí Nguyên thứ 16 (1279), thống nhất toàn bộ Trung Hoa.

Nội Trung Hoa và Mông Cổ[13][14] được chia thành 10 hành trung thư tỉnh (行中書省) hay hành tỉnh (行省) trong thời kỳ trị vì của ông với 1 hành thượng thư tỉnh và 1 hành thị lang tỉnh đứng đầu. Bên cạnh 10 hành tỉnh là khu vực trung tâm (tiếng Trung: 腹裏 = Phúc Lý), bao gồm phần lớn Hoa Bắc ngày nay, được coi là khu vực quan trọng nhất của nhà Nguyên và do trung thư tỉnh tại Đại Đô trực tiếp quản lý. Ngoài ra, Tây Tạng cũng do một cơ quan cấp cao khác là Tuyên chính viện (tiếng Trung: 宣政院) quản lý trực tiếp.

Ông quản lý điều hành công việc triều chính khá tốt, khuyến khích phát triển kinh tế với việc cho xây dựng lại Đại Vận Hà, sửa chữa các tòa nhà công và mở rộng đường đi lối lại. Tuy nhiên, chính sách đối nội của Hốt Tất Liệt cũng bao gồm một số khía cạnh của các truyền thống Mông Cổ cũ, và trong khi Hốt Tất Liệt tiếp tục công việc trị vì của mình thì những truyền thống này va chạm ngày càng thường xuyên hơn với kinh tế và văn hóa xã hội Trung Hoa truyền thống.

Niccolo và Maffeo Polo chuyển bức thư của Hốt Tất Liệt cho giáo hoàng Gregory X năm 1271.

Năm 1273, ông cho phát hành một loạt mới các giấy bạc được nhà nước bảo đảm, được sử dụng trong khắp đất nước, mặc dù cuối cùng do thiếu các kỹ năng, kỷ luật tài chính và lạm phát đã làm cho bước đi này trở thành thảm họa kinh tế đối với triều đại này trong những năm sau đó. Việc thanh toán được thực hiện bằng tiền giấy gọi là sáo. Để đảm bảo việc sử dụng nó, chính quyền Hốt Tất Liệt đã sung công vàng, bạc từ các cá nhân cũng như từ thương nhân ngoại quốc. Thay vì thế, các thương nhân được nhận giấy bạc do nhà nước ban hành theo tỷ lệ quy đổi. Điều này giải thích tại sao Hốt Tất Liệt được coi là người đầu tiên tạo ra tiền pháp định. Giấy bạc làm cho việc thu thuế và quản lý một đế quốc rộng lớn trở nên dễ dàng hơn trong khi làm giảm chi phí vận chuyển tiền kim loại[15]. Sau này Gaykhatu (Hải Hợp Đô) của hãn quốc Y Nhi cũng có ý định áp dụng hệ thống này tại Ba TưTrung Đông, nhưng đã hoàn toàn thất bại và ông này bị ám sát ngay sau đó.

Ông cũng cho phát triển các bộ môn nghệ thuật châu Á và chấp nhận những khác biệt về tôn giáo, ngoại trừ khi đề cập tới Đạo giáo. Một số người châu Âu đã từng đặt chân tới đây, đáng chú ý trong số này có Marco Polo trong thập niên 1270, người có thể đã từng nhìn thấy kinh đô mùa hè tại Thượng Đô.