1 Xia Dynasty : Nhà Hạ
2 Shang Dynasty : Nhà Thương
3 Zhou Dynasty : Nhà Chu (Châu)
4 Qin Dynasty : Nhà Tần
5 Han Dynasty : Nhà Hán ( Phân Tây-Đông Hán)
6 Three Kingdoms Period : Tam Quốc ( Nguỵ Thục Ngô)
7 Jin Dynasty : Nhà Tấn
8 Sixteen Kingdoms Period : Thập Lục Quốc
9 Northern and Southern Dynasties : Nam Bắc Triều
10 Sui Dynasty : Nhà Tuỳ
11 Tang Dynasty : Nhà Đường
12 Five Dynasties and Ten Kingdoms : Ngũ đại Thập Quốc
13 Liao Dynasty : Nhà Liêu
14 Song Dynasty : Nhà Tống
15 Western Xia : Nhà Tây Hạ
16 Jin Dynasty : Nhà Tấn
17 Yuan Dynasty : Nhà Nguyên
18 Ming dynasty : Nhà Minh
18.1 Shun Dynasty : Thời Thuấn
18.2 Southern Ming Dynasty : Có triều Nam Minh không???
19 Qing dynasty : Nhà Thanh
Tên các triều đại trung hoa
Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009 vào lúc 20:33 {1 nhận xét}
5 vị vua truyền thuyết trong lịch sử Trung Quốc
vào lúc 20:30 {0 nhận xét}
rong truyền thuyết Trung Quốc xưa có 5 ông vua lý tưởng. Đó là Viêm Đế, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn và Hạ Vũ. Có thuyết nói Viêm Đế tức Thần Nông, người phát minh ra cái cày và dạy dân làm ruộng. Hoàng Đế họ Cơ, hiệu là Hiên Viên, phát minh ra binh khí bằng đá cứng, thuyền xe, cung tên và nhuộm 5 màu, chữ viết, lịch can chi, nhạc khí. Vợ ông là Luy Tổ phát minh ra nuôi tằm. Về sau Hoàng Đế được coi là thủy tổ của tộc Hoa. Viêm Đế và Hoàng Đế là thủ lĩnh của ác bộ lạc cư trú ở Hoàng Hà, miền đất trù phú được coi là nơi khai sinh nền văn minh Trung Hoa.
Hoàng Đế có họ là Công Tôn, cũng có thuyết nói ông họ Cơ, tên là Hiên Viên. Chuyên Húc là cháu của Hoàng Đế, dựng nước ở vùng Cao Dương (tỉnh Hồ Bắc ngày nay). Đế Khốc tên là Tuấn, phò tá Chuyên Húc từ năm 15 tuổi, 30 tuổi nối ngôi, ở ngôi 70 năm, tới năm 105 tuổi mới qua đời. Con trai ông là Chí nối ngôi nhưng hoang dâm vô độ, nên chín năm sau bị phế truất. Nghiêu lên nối ngôi. Vua Nghiêu họ Y Kỳ, tên là Phóng Huân, hiệu Đào Đường Thị, gọi tắt là Đường Nghiêu. Sách cổ nói ông giỏi trị thiên hạ, đặt ra lịch một năm có 366 ngày, chia thành 4 mùa. Vua Nghiêu chết năm 86 tuổi, ông nhường ngôi cho con rể là Nghiêu Thuấn. Thuấn cũng có nhiều công trong việc phát triển kinh tế, săn bắt, nông nghiệp.
Vua Nghiêu
Nghiêu (tiếng Trung Quốc:, giản thể:) (2337 - 2258 TCN) là một vị vua huyền thoại ở Trung Quốc, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. cũng được gọi là Giao Đường Thị, ông sinh tại Nhân Phóng Huân hay Nhân Kỳ là con trai thứ hai của Khốc Đế và Khánh Đô. Ông cũng được gọi là Đường Nghiêu .
Thường được ca tụng là một vị vua tài giỏi và đạo đức, lòng nhân từ và sự cần cù của vua Nghiêu được coi là kiểu mẫu cho mọi vị vua và hoàng đế Trung Hoa khác. Buổi ban đầu lịch sử Trung Hoa, ba gương mặt, Nghiêu, Thuấn và Vũ rất thường được đề cập tới, và những nhà sử học thời sau tin rằng có thể họ đại diện cho những lãnh tụ của các bộ tộc liên minh đã thành lập nên một hệ thống trật tự chính phủ thống nhất trong một giai đoạn chuyển tiếp sang một xã hội phong kiến gia trưởng.
Theo truyền thuyết, Nghiêu lên ngôi vua khi mới 20 tuổi, chết khi 119 và ông truyền ngôi cho vua Thuấn, người được ông gả cho hai cô con gái từ trước. Trong nhiều cống hiến của mình, vua Nghiêu được cho là đã phát minh ra cờ vây.
Truyền thuyết "Sào Phủ Hứa Do" là một chuyện đời vua Nghiêu. Nhân vật Bành Tổ cũng được cho là một nhân vật của thời vua Nghiêu.
Trong văn học Việt Nam, thời Nghiêu, Thuấn được dùng làm điển cố miêu tả thời thái bình, (ngoài) đường không lượm của rơi, (trong) nhà khỏi lo đóng cửa.
Điển cố này ảnh hưởng trong văn học cũng như các khía cạnh khác của đời sống người Việt Nam, kể cả tôn giáo. Bài "Cư Trần Lạc Đạo Phú" của vua Trần Nhân Tông (tức sơ tổ Phật Giáo Trúc Lâm) có câu:
Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha.
Các vua Việt Nam cũng dùng Nghiêu Thuấn là mẫu mực cho việc cai trị. Bên trong điện Thái Hòa (thành nội Huế), ngay trên ngai vua có bài thơ:
Văn hiến ngàn năm dựng
Núi sông vạn dặm xa
Hồng Bàng thưở lập quốc
Nghiêu Thuấn vững sơn hà.
Vua Thuấn
Thuấn là một vị vua huyền thoại thời Trung Quốc cổ đại, nằm trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Tên khi sinh Diêu Trọng Hoá . Ông cũng được gọi là Hữu Ngu Thị . Ông được Vua Nghiêu đưa lên ngôi khi 53 tuổi và chết khi 100 tuổi, sau khi trao lại ngôi báu cho Hạ Vũ. Ông đặt thủ đô vương quốc tại Bồ Phản , Sơn Tây hiện nay).
Ông cũng được gọi là Đại Thuấn hay Ngu Thuấn .
Vua Thuấn trong văn học Việt Nam
Trong văn học Việt Nam, thời Nghiêu, Thuấn được dùng làm điển cố miêu tả thời thái bình, (ngoài) đường không lượm của rơi, (trong) nhà khỏi lo đóng cửa.
Trong vở kịch thơ "Kiều Loan", Hoàng Cầm dùng hai chữ "Nghiêu Thuấn" để chỉ cách cai trị nhân từ và công bằng. Khi quan Thị lang muốn trừng trị một người dân vì có nói lời chỉ trích triều đình, viên quan Tham tri can:
Xin đại nhân chớ vội vàng lên án
Cửa miệng dân gian không thiếu những điều
Ca tụng Tây Sơn, oán trách đương triều
Dân oán hận phải tìm ra gốc ngọn
Đây là Kiệt Trụ hay đây là Nghiêu Thuấn?
Chúa thượng nhân từ sao oán hận không nguôi?
Điển cố này cũng ảnh hưởng khía cạnh khác của đời sống người Việt Nam, kể cả tôn giáo. Bài Kệ U Minh Chung của đạo Cao Đài có câu:
Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt.
Dịch nghĩa: Đất đai trong nước đều thấm nhuần thời thái bình an lạc.
Một điển cố khác liên quan đến vua Thuấn là sông Tương.
Theo truyền thuyết, vua Thuấn đi tuần thú đất Thương Ngô ở miền sông Tương không may bị bịnh chết. Hai người vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh (con vua Nghiêu) đi tìm vua đến bên sông Tương, ngồi bên bờ sông khóc lóc thảm thiết rồi trầm mình tự tử. Do đó, giọt Tương hay mạch Tương thành điển cố chỉ giọt nước mắt, nhất là nếu khóc vì tình.
Trong truyện Kiều có câu:
Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương
(Kiều khóc)
Điển cố này cũng dùng cho phái nam, như trong câu sau, cũng trích truyện Kiều:
Giọt châu lã chã khôn cầm
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương!
(Thúc Sinh khóc)
Từ biểu tượng "khóc vì tình", điển này có khi nới rộng ra để nói về việc buồn (dù có thể không khóc) vì tình, như câu sau trong Bích câu kỳ ngộ:
Ỏi tai những tiếng đoạn trường
Lửa tình dễ nguội sóng Tương khôn hàn
(Tú Uyên tương tư)
Một vị vua trong Ngũ Đế thời thượng cổ họ Diêu tên là Thuấn, một trang hiếu tử. Sau được vua Nghiêu, hiệu là Đào Đường gả hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh, rồi lại truyền ngôi báu cho. Vua Thuấn lên ngôi đặt niên hiệu là Đường Ngu.
Nguyên cha của Thuấn là người hung bạo, không biện biệt được người hay kẻ dỡ, người đương thời đặt tên là Cổ Tẩu (người mù mắt). Mẹ của Thuấn mất sớm, Cổ Tẫu tục huyền với người đàn bà sau này sinh ra Tượng. Vì có lời gièm pha của người kế mẫu và đứa em ngỗ nghịch cùng cha khác mẹ, Cỗ Tẫu không ưa Thuấn và định bụng giết đi. Biết thế, nhưng Thuấn vẫn trọn gìn chữ hiếu đối với cha và người dì ghẻ ác nghiệt, hòa thuận với đứa em độc ác, không một lời than oán. Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. Thấy không hại được Thuấn Cổ Tẫu và người dì ghẻsai Thuấn đánh cá ở Hồ Lôi Trạch, nơi có nhiều sóng to gió lớn, nhưng khi Thuấn đến thì sóng lặng gió yên.
Đến khi được vua Đường Nghiêu truyền ngôi, suốt 18 năm trị vì, Đế Thuấn chỉ ngồi gảy đàn hát khúc Nam Phong mà trị bình thiên hạ, nhà nhà đều lạc nghiệp âu ca.
Nguyên Bản:
Đội đội canh điền tượng,
Phân Phân vân thảo cầm,
Phụ Nghiêu đăng báo vị,
Hiếu cảm động thiên tâm
Có nghĩa là
Hàng đàn voi về cày ruộng,
Hàng bầy chim đến nhặt cỏ,
Giúp vua Nghiêu lên ngôi báu,
Hiếu thảo động lòng trời.
Diễn Quốc Âm:
Đức Đại Thánh họ Ngu, vua Thuấn,
Buổi tiềm long gặp vận hàn vi,
Tuổi xanh khuất bóng từ vi
Cha là Cổ Tẫu người thì ương ương,
Mẹ ghẻ tính càng khe khắt,
Em Tượng thêm rất mực điêu ngoa,
Một mình thuận cả vừa ba,
Trên chiều cha mẹ dưới hòa cùng em.
Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt,
Dẫu tử sinh không chút biến dời,
Xót tình khóc tối kêu mai
Xui lòng ghen chét hóa vui dần dần,
Trời cao thẳm mấy lần cũng đến
Vật vô tri cũng mến lọ người.
Mấy phen non lịch pha phôi,
Cỏ chim vì nhặt, ruộng voi vì cày.
Tiếng hiếu hữu xa bay bệ thánh,
Mệnh trương dung trao chánh nhường ngôi
Cầm thi xiêm áo thảnh thơi,
Một nhà đầm ấm, muôn đời ngợi khen.
Nhà Hạ
Nhà Hạ (Hán tự: 夏, bính âm: xia) là một triều đại Trung Quốc. Sử học Trung Quốc coi đây là triều đại đầu tiên của Trung Quốc, sau thời Tam hoàng Ngũ đế và trước thời nhà Thương, kéo dài từ năm -2205 đến -1767, bắt đầu từ vua Hạ Vũ và kết thúc ở vua Kiệt. Tuy nhiên, người ta có quyền đặt nghi vấn đối với triều đại này vì trên thực tế, những văn thư đầu tiên của Trung Quốc được viết ra sau triều đại này cả hơn một nghìn năm.
Những cuộc khai quật gần đây tại các di chỉ thời đại đồ đồng sớm tại Nhị Lí Đầu tại tỉnh Hà Nam, cũng khó tách biệt truyền thuyết ra khỏi thực tế đối với sự tồn tại của triều đại này. Hầu hết các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng văn hoá Nhị Lí Đầu là nơi phát tích của nhà Hạ, tuy vậy các nhà khảo cổ học phương Tây vẫn không đồng ý về mối liên hệ giữa nhà Hạ và văn hoá Nhị Lí Đầu.
Truyền thuyết nói rằng vua Vũ là người hiền, có công đào vét chín con sông trị thủy cho Trung Quốc trong tám năm. Trong thời gian đào vét, ông nhiều lần đi ngang qua nhà mình mà không vào, ông được vua Thuấn truyền ngôi. Khi chết, Vũ truyền ngôi cho một bầy tôi mà ông cho là hiền, tức ông Ích, nhưng Ích không nhận, nhường ngôi lại cho con ông Vũ là Khải, mà đi ở ẩn tại chân núi Kỳ Sơn. Sau 18 đời, vua cuối cùng nhà Hạ là Kiệt tàn bạo, hoang dâm, mê nàng Muội Hỷ, bị dân chúng ghét, vua Thương Thang là chư hầu dấy quân diệt nhà Hạ lập ra nhà Thương.
17 đời vua nhà Hạ là: Vũ, Khải, Thái Khang, Trọng Khang, Tương, Thiếu Khang, Trữ, Hoè, Mang, Tiết, Bất Giáng, Quynh, Cần, Khổng Giáp, Cao, Phát, Kiệt.
Vua Vũ nhà Hạ Trung Quốc, trong tiếng Trung Quốc: 禹, (2070 TCN-2061 TCN), tên khi sinh Tỉ Văn Mệnh, tiếng Trung Quốc: 姒文命, thường được gọi là Đại Vũ (大禹).
Theo truyền thuyết, vua Vũ là vị vua đầu tiên của nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc, được coi là người sáng lập ra triều đại này. Thỉnh thoảng cũng được coi là một trong Tam Hoàng Ngũ Đế, ông được nhớ tới nhiều nhất với tư cách là người đã có công phát triển kỹ thuật trị thuỷ chinh phục các sông ngòi Trung Quốc.
Cha Vũ, Cổn (鯀), được Vua Nghiêu (堯) sai đi trị thuỷ nhưng không thành công nên bị Vua Thuấn (舜), người kế tục Vua Nghiêu, giết. Tiếp tục công việc của cha, Vũ đã đào chín sông mới, bỏ ra mười ba năm và khoảng 20.000 nhân công để hoàn thành nhiệm vụ.
Vũ cũng là người nổi tiếng về tính kiên trì và kiên quyết. Ông được kính trọng như một vị vua hoàn hảo. Các câu chuyện về công việc trị thuỷ của ông cho rằng trong thời gian làm việc, ông đã ba lần qua nhà mà không vào; có nghĩa là ông coi vấn đề trị thuỷ quan trọng hơn việc gia đình rất nhiều.
Vua Thuấn rất ấn tượng trước những nỗ lực của Vũ và đã đưa ông lên ngôi chứ không phải con trai mình.
Theo những văn bản lịch sử, vua Vũ chết tại Núi Kuaiji (phía nam Thiệu Hưng hiện nay) trong khi đang đi săn bắn ở biên giới phía nam đế chế, và ông đã được chôn cất tại đó. Một lăng mộ đã được xây dựng để tưởng nhớ ông. Một số hoàng đế thời đế quốc sau này đã đi tới đó thực hiện các nghi lễ tưởng niệm ông, đặc biệt có cả Tần Thuỷ Hoàng. Lăng Đại Vũ , cũng đã được xây dựng trên di tích nơi các buổi lễ đó được thực hiện.
Trước thời vua Vũ, danh hiệu hoàng đế được kế tiếp cho người nào được cộng đồng coi là có đạo đức cao nhất, chứ không phải là truyền tử. Tuy nhiên, con trai vua Vũ, Khải , đã chứng minh được khả năng của mình và trở thành người thừa kế ngôi báu của cha, đánh dấu sự khởi đầu của một triều đại mới là nhà Hạ , triều đại đầu tiên của phong kiến Trung Quốc. Nó đã trở thành một hình mẫu cai trị dựa trên thừa kế ở Trung Quốc
Xi vưu
vào lúc 20:27 {0 nhận xét}
Hoàng Đế đánh Xi Vưu
vào lúc 20:25 {0 nhận xét}
Cách đây hơn 4000 năm, ở lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang có nhiều thị tộc và bộ lạc sinh sống. Hoàng Đế là một trong những thủ lĩnh bộ lạc nổi tiếng nhất trong truyền thuyết.
Bộ lạc do Hoàng Đế làm thủ lĩnh ban đầu sống ở vùng Cơ Thuỷ thuộc tây bắc Trung Quốc, sau dời tới vùng Trác Lộc bắt đầu định cư, phát triển chăn nuôi và trồng trọt.
Viêm Đế (Thần Nông) là thủ lĩnh một bộ lạc khác đồng thời với Hoàng Đế, cư trú tại vùng Khương Thuỷ ở tây bắc Trung Quốc. Theo truyền thuyết Trung Hoa thì Viêm Đế có họ hàng thân tộc với Hoàng Đế.
Còn Xi Vưu là thủ lĩnh bộ tộc Cửu Lê. Họ chế tạo ra các loại vũ khí như đao, kích, cung, nỏ, thường dẫn bộ lạc đi xâm chiếm, cướp phá các bộ lạc khác.
Có lần, Xi Vưu xâm chiếm vùng đất của Viêm Đế. Viêm Đế đem quân chống lại nhưng thất bại. Viêm Đế đành chạy đến Trác Lộc, xin Hoàng Đế giúp đỡ. Hoàng Đế liên kết các bộ lạc, chuẩn bị lương thực, vũ khí, triển khai một trận quyết chiến với Xi Vưu trên cánh đồng Trác Lộc.
Về trận đại chiến này, đã có nhiều truyền thuyết hoang đường, khi quân của Hoàng Đế thừa thắng đuổi theo quân của Xi Vưu, trời bỗng nổi cuồng phong, là do Xi Vưu đã được sự giúp đỡ của thần gió, thần mưa. Hoàng Đế cũng nhờ Thiên Nữ giúp đỡ. Cuối cùng, Xi Vưu bị đánh bại. Những truyền thuyết trên chỉ có tính chất phản ánh sự khốc liệt của cuộc chiến.
Từ đó, Hoàng Đế được nhiều bộ lạc ủng hộ. Nhưng sau đó 2 bộ lạc của Hoàng Đế và Viêm Đế lại nảy ra xung đột, hai bên đánh nhau một trận ở Bản Tuyền, Viêm Đế thất bại. Từ đó Hoàng Đế trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc các vùng Trung Nguyên.
Trong các truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, Hoàng Đế rất được tôn sùng. Người đời sau đều cho rằng Hoàng Đế là thuỷ tổ của người Hoa Hạ (tức dân tộc Hán ngày nay) và coi mình là con cháu của Hoàng Đế. Viêm Đế và Hoàng Đế vốn thân thuộc nên sau này hai bộ lạc lại hoà hợp, nên người Trung Quốc thường tự xưng mình là con cháu Viêm-Hoàng. Để kỉ niệm vị tổ tiên chung đó, người ta xây lăng Hoàng Đế ở Kiều Sơn, phía bắc huyện Hoàng Lăng tỉnh Thiểm Tây.
Hoàng đế là tước vị cao của vua Trung Quốc trong hệ thống phong kiến sau đời nhà Chu. Từ đời nhà Chu ở Trung Quốc trở về trước, tước vị để chỉ vua là Vương tức người có quyền lực tối cao của quốc gia. Năm 221 trước Công Nguyên, Tần Vương Doanh Chính thống nhất các nước nhỏ, các dân tộc khác nhau trên một vùng rộng lớn tạo ra tiền đề để tạo thành nước Trung Quốc sau này. Vua Tần là Doanh Chính vốn đang xưng vương không muốn dùng lại danh xưng Vương như vua nhà Chu, mà sau này sẽ được dùng làm tước phong tặng cho các công thần của mình (tước Vương). Để chứng tỏ đẳng cấp cao hơn của vua nhà Tần mới so với vua nhà Chu cũ, phân rõ tôn ti trên dưới với các vua cai trị các tiểu quốc cũ đã bị tiêu diệt, tỏ rõ thần quyền phong kiến chính danh với dân các nước đã bị chiếm đọat, tiêu diệt, Tần Doanh Chính đã ghép chữ Hoàng là danh xưng của 3 vị vua thời Tam hoàng và chữ Đế là danh xưng của 5 vị vua thời Ngũ đế thời thượng cổ thành tước vị hoàng đế, và trở thành vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử nước Tần, tức là Tần Thủy Hoàng. Từ đó các vị vua phong kiến tập quyền chính thống ở Trung Quốc cũng dùng danh vị này, và phong tước Vương đã được dùng cho các bề tôi.
Ngôi vi của vua phong kiến xưa ở Trung Quốc tức Hoàng Đế theo chế độ tông pháp tức "cha truyền con nối". Khi Trung Quốc bị chia cắt, các vua đều tự xưng là Hoàng đế. Hoàng đế cuối cùng ở Trung Quốc là Phổ Nghi, thoái vị năm 1911. Viên Thế Khải cũng xưng làm Hoàng Đế. Hồng Tú Toàn thì lại xưng là Thiên Vương với ý cao quý hơn cả Hoàng Đế nhà Thanh.
Vua ở Việt Nam mỗi khi giành được độc lập từ Trung Quốc cũng tự xưng hoàng đế để không kém vua Trung Quốc về mặt danh xưng, như Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng, Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Lê, Quang Trung hoàng đế, Nhà Nguyễn. Hoàng đế cuối cùng ở Việt Nam là Bảo Đại, thoái vị năm 1945.
Hoàng đế ở Nhật Bản xưng là Thiên hoàng.
Ở châu Âu, Vua (emperor) được dịch ra tiếng Việt là hoàng đế để phân biệt với vua (king) ở chỗ hoàng đế không ở dưới quyền của Giáo hoàng. Chẳng hạn các Hoàng đế La Mã trước khi Thiên Chúa giáo trở thành quốc giáo, Hoàng đế Napoléon I của Pháp, Hoàng đế của Đế quốc La Mã thần thánh (Holy Roman Empire).
Tất cả những gì liên quan đến hoàng đế đều có ghép chữ Hoàng hoặc chữ Đế. Vợ chính của hoàng đế là hoàng hậu, con trai là hoàng tử, con gái là công chúa, cha của hoàng đế nếu còn sống là thái thượng hoàng, mẹ là hoàng thái hậu, bà nội là thái hoàng thái hậu.
Hoàng Đế
vào lúc 20:24 {0 nhận xét}
Hoàng Đế (Trung phồn thể, Trung giản thể, bính âm: huángdì) là một thủ lĩnh huyền thoại và anh hùng văn hoá người Trung Quốc được coi là thuỷ tổ của mọi người Hán. Lưu ý chữ hoàng ở đây chỉ sắc vàng, gọi nôm na là ông Vua Vàng, khác với hoàng trong Hoàng đế là tên gọi cho vua Trung Quốc kể từ thời nhà Tần (xem Tần Thuỷ Hoàng).:smile 50:
Hoàng Đế được coi là một trong Ngũ Đế, theo huyền sử Trung Quốc thì Hoàng Đế trị vì trong khoảng 2698 TCN đến 2599 TCN.
Theo truyền thuyết thì việc Hoàng Đế rút về phía tây tại Trận Trác Lộc đánh thủ lĩnh Xi Vưu là cái mốc hình thành người Hán
Thần Nông
vào lúc 20:19 {0 nhận xét}
Là một trong các vị Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa, là người đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Tịch Điền hoặc Hạ Điền.
Là tên gọi dân gian của chòm sao Thiên Hạt. Chòm sao này còn có các tên gọi khác như Hổ Cáp, Bọ Cạp hay Scorpius.:biggrin:
Thần Nông , hay Viêm Đế, là một trong các vị vua Trung Hoa đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Tịch Điền (còn gọi là lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cũng như nghề làm thuốc trị bệnh, cho nên trong dân gian có câu Thần Nông giáo dân nghệ ngũ cốc (tức Thần Nông dạy dân trồng ngũ cốc). Theo truyền thuyết phương nam thì Thần Nông là tổ tiên năm đời của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân và Âu Cơ được coi là tổ tiên của người Việt.
Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong được mùa và nghề nông phát đạt.
Trên các quyển lịch cổ hàng năm, người ta thường vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề nông.
Hình mục đồng cũng như con trâu thay đổi hàng năm tùy theo sự ước đoán của Khâm thiên giám về mùa màng năm đó sẽ tốt hay xấu.:smile 23:
Năm nào được coi là được mùa, Thần Nông có giày dép chỉnh tề, còn năm nào mùa màng bị coi là kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày một chân. Con trâu được đổi màu tùy theo hành của mỗi năm, nó có thể có một trong 5 màu vàng, đen, trắng, xanh, đỏ đúng với các hành Thổ, Thủy, Kim, Mộc, Hỏa.
Thời phong kiến, hàng năm đều có tục tế và rước Thần Nông tại triều đình cũng như ở các địa phương.
Lễ tế Thần Nông hàng năm cử hành vào ngày Lập xuân, bởi vậy nên lễ tế Thần Nông còn được gọi là tế xuân.
Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, hàng năm sau tiết Đông chí, tòa Khâm thiên giám phải lo sửa soạn việc tế Thần Nông. Các quan cùng nhau họp để nặn trâu và tượng Thần Nông.
Trước ngày lập xuân hai ngày, tại gần cửa Đông Ba (ngày nay là cửa chính Đông), các quan Khâm thiên giám cho lập một cái Đài hướng đông. Trâu và tượng Thần Nông cũng được đưa tới lưu tại phủ Thừa Thiên để ngày hôm sau các quan trong phủ mới rước từ phủ tới Đài. Các quan vận lễ phục, có quân lính mang gươm giáo, tàn lọng, cờ quạt theo hầu.
Tới Đài thì một lễ đơn giản được cử hành, ngụ ý trình với Thổ Công về sự hiện diện của tượng Thần Nông và trâu. Sau đó, trâu và tượng Thần Nông lại được khiêng về kho cất. Hôm tế xuân, tượng và trâu lại được rước ra Đài, nhưng lần này đi rước là các quan bộ Lễ và các quan phủ Thừa Thiên. Khi đám rước đi qua cung vua, một viên thái giám vào tâu để vua biết. Sau đó, đám rước lại tiếp tục đi và khi đi qua bộ Lễ, một viên quan đánh vào mông trâu ba roi, có ý thôi thúc trâu phải làm việc.
Tới Đài, các quan làm lễ tế Thần Nông theo như nghi lễ các cuộc tế khác. Tế Thần Nông xong, trâu và tượng Thần Nông được quân lính mang đi chôn sau buổi lễ.
Tại các tỉnh, trong ngày Lập xuân cũng có lễ tế Thần Nông và lễ cũng được sửa soạn từ sau ngày Đông chí. Các quan tỉnh phụ trách việc hành lễ. Trâu và tượng Thần Nông cũng được đem chôn.
Người Dao Tuyển, để cảm tạ công ơn và cầu xin cho mùa màng bội thu, nhà nhà hạnh phúc thì lễ hội ngày 6 tháng 6 âm lịch là ngày cúng Thần Nông lớn nhất trong năm. Ngoài ra họ còn thờ cúng Thần Nông vào các ngày 1 tháng 1 âm lịch và 9 tháng 9 âm lịch hàng năm.
Có tài liệu cho rằng Hoàng Đế và Thần Nông là một người. Có tài liệu thì lại cho rằng Phục Hi, Thần Nông và Hoàng Đế là ba người khác nhau (gọi chung là Tam Hoàng). Thực ra tất cả chỉ đều là huyền thoại, không có gì đảm bảo là họ là ba người hay chỉ là một hoặc hai người.
Câu hỏi tại sao người Việt nhận là con cháu của Thần Nông, một trong những ông vua đầu tiên của Trung Hoa là vấn đề được nhiều người tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu hiện nay, dựa trên các dữ liệu về sử học, thần thoại học, ngôn ngữ học, đã giả thiết rằng Thần Nông là một vị thần có nguồn gốc từ phương nam (từ phía nam sông Dương Tử xuống đến hết Việt Nam ngày nay, đó là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt).
Sau khi nước Trung Hoa mở rộng từ phía tây sang phía đông (giai đoạn một), rồi từ phía bắc xuống phía nam (giai đoạn hai) thì Thần Nông được người Trung Hoa sát nhập vào văn hóa của họ và được coi là một trong các "ông vua" đầu tiên của họ. Thực ra trước đó, Thần Nông đã được coi là "ông tổ" của một số bộ tộc Bách Việt. Và sau này, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa rất mạnh, nhiều người lầm tưởng người Việt nhận một ông vua Trung Hoa làm ông tổ của mình.
Các dữ liệu ủng hộ giả thuyết trên:
Thần Nông tức là vị thần về nông nghiệp, vị thần này thường được hình dung cưỡi trâu để đi lại nên vị thần gắn liền với văn hóa lúa nước.
Thần Nông còn có một tên gọi khác là Viêm Đế (vua xứ nóng - vua phương nam), và được coi là vị thần cai quản phương nam.
Cách đọc từ Thần Nông là cách đọc của phương nam, người phương bắc sẽ có xu hướng đọc là Nông Thần.
Tuy nhiên, điều này bị phản bác rằng từ Thần Nông vẫn hiểu được theo ngữ pháp phương bắc, và có nghĩa là người nông phu-thần linh.
Truyền thuyết của một số dân tộc thiểu số của Việt Nam (ít bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa) như dân tộc Mèo cũng coi Thần Nông là ông tổ của nghề trồng lúa nước.
Phổ Nghi hoàng đế cuối cùng của triều đại Mãn Thanh
Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009 vào lúc 19:44 {0 nhận xét}
Phổ Nghi tên chính là Ái Tân Giác La Phổ Nghi(1906-1967),lên ngôi năm 1909 niên hiệu Tuyên Thống là hoàng đế thứ 12 đồng thời cũng là vị hoàng đế cuối cùng của triều đại Mãn Thanh,Ông thoái vị sau cuộc cách mạng Tân Hợi(1911) thành lập Trung Hoa Dân Quốc,nhưng vẫn sống trong tử cấm thành cùng với hòang tộc với 1 số điều kiện ưu đãi của chính phủ Trung Hoa dân quốc.
Năm 1924 khi quân phiệt Phùng Ngọc Tường tấn công Tử Cấm Thành,ông chạy vào trốn tránh ở sứ quán Nhật bản tại Bắc Kinh.tháng 3 năm 1934 ông được người Nhật đưa lên làm vua "nước Mãn Châu ở Đông bắc Trung Quốc,kéo dài cuộc sống bù nhìn suốt thời kì phát xít Nhật tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc.
Tháng 8 năm 1945 Hồng Quân Liên Xô tấn công tiêu diệt độ quân Quan Đông của Nhật Bản ở Vùng Đông Bắc Trung Quốc ông bị Hồng Quân Liên Xô bắt và đưa về Liên Xô,Năm 1949 sau khi nước CHND Trung Hoa được thành lập chính phủ Liên Xô trao trả Phổ Nghi cùng với 1 số tội phạm chiến tranh khác cho chính phủ CHND Trung Hoa.
10 năm sau ngày thành lập nước tức là vào năm 1959 Chính Phủ Trung Quốc ra lệnh dặc xá 1 số tội phạm chiến tranh đã thực sự tiếp thu cải tạo và hối cải,Phổ Nghi cùng nhiều người khác đã được ân xá và hưởng quyền công dân.
Chúng ta hãy cùng bàn luận về cuộc đời và những câu truyện xung quanh nhân vật lịch sử này để hiểu rõ hơn về triều đại Mãn Thanh qua đó hiểu được hoàn cảnh lịch sử của việc tàn lụi 1 triều đại to lớn tồn tại qua 12 đời vua và việc hình thành lên nước CHND Trung Hoa như thế nào?